Conserving Genetic Diversity in Seed Banks · C1 · Luyện viết tiếng Anh

Conserving Genetic Diversity in Seed Banks · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trật

12 câu luyện viết · Biodiversity Preservation

  1. When evaluating ecosystem management, a plausible mechanism strengthens an argument only when it is consistent with field surveys, population trends, and habitat data and does not contradict well-established observations.

    Khi đánh giá quản lý hệ sinh thái, một cơ chế hợp lý chỉ củng cố lập luận khi nó phù hợp với khảo sát thực địa, xu hướng quần thể và dữ liệu sinh cảnh và không mâu thuẫn với các quan sát đã được xác lập vững chắc.

  2. With respect to habitat planning, a transparent evidence trail allows communities whose livelihoods depend on local ecosystems to see where judgement entered the analysis instead of mistaking interpretation for fact.

    Đối với quy hoạch sinh cảnh, một chuỗi bằng chứng minh bạch cho phép các cộng đồng có sinh kế phụ thuộc vào hệ sinh thái địa phương thấy chỗ phán đoán được đưa vào phân tích, thay vì nhầm diễn giải với dữ kiện.

  3. In conservation practice, before arguing for a particular approach to conserving genetic diversity in seed banks, conservationists, ecologists, and local communities should clarify the practical problem they are actually trying to solve.

    Trong thực hành bảo tồn, trước khi bảo vệ một cách tiếp cận đối với bảo tồn đa dạng di truyền trong ngân hàng hạt giống, các nhà bảo tồn, nhà sinh thái học và cộng đồng địa phương nên làm rõ vấn đề thực tiễn mà họ thực sự muốn giải quyết.

  4. Within ecosystem management, conservationists, ecologists, and local communities should combine quantitative indicators with qualitative evidence when species recovery, habitat quality, and ecological connectivity includes outcomes that numbers alone cannot capture well.

    Trong phạm vi quản lý hệ sinh thái, các nhà bảo tồn, nhà sinh thái học và cộng đồng địa phương nên kết hợp chỉ báo định lượng với bằng chứng định tính khi mức phục hồi loài, chất lượng sinh cảnh và tính kết nối sinh thái bao gồm những kết quả mà con số đơn thuần không phản ánh tốt.

  5. For habitat planning, because field surveys, population trends, and habitat data are shaped by how they are collected, methodological choices can create blind spots that later appear to be substantive findings.

    Đối với quy hoạch sinh cảnh, vì khảo sát thực địa, xu hướng quần thể và dữ liệu sinh cảnh chịu ảnh hưởng từ cách chúng được thu thập, lựa chọn phương pháp có thể tạo ra điểm mù rồi bị hiểu nhầm thành phát hiện thực chất.

  6. In relation to conservation practice, without clear baseline data, later claims about improvement in species recovery, habitat quality, and ecological connectivity would have been impossible to evaluate convincingly.

    Liên quan đến thực hành bảo tồn, nếu không có dữ liệu đường cơ sở rõ ràng, các tuyên bố sau này về cải thiện mức phục hồi loài, chất lượng sinh cảnh và tính kết nối sinh thái sẽ không thể được đánh giá thuyết phục.

  7. When discussing ecosystem management, a technically superior option is not automatically preferable if it requires conditions that protected areas and surrounding working landscapes cannot reliably provide.

    Khi thảo luận về quản lý hệ sinh thái, một phương án vượt trội về kỹ thuật không tự động trở nên đáng chọn nếu nó đòi hỏi những điều kiện mà khu bảo tồn và các vùng sản xuất xung quanh không thể cung cấp ổn định.

  8. When considering habitat planning, a formally inclusive process can still be unbalanced if communities whose livelihoods depend on local ecosystems lack time, information, or practical influence over the final choice.

    Khi xem xét quy hoạch sinh cảnh, một quy trình có vẻ bao trùm về hình thức vẫn có thể mất cân bằng nếu các cộng đồng có sinh kế phụ thuộc vào hệ sinh thái địa phương thiếu thời gian, thông tin hoặc ảnh hưởng thực tế lên lựa chọn cuối cùng.

  9. For ecologists, when experts disagree, conservationists, ecologists, and local communities should identify whether the disagreement concerns data, assumptions, values, or the acceptable level of displacement, ecological imbalance, and unintended pressure on other species.

    Đối với nhà sinh thái học, khi chuyên gia bất đồng, các nhà bảo tồn, nhà sinh thái học và cộng đồng địa phương nên xác định bất đồng nằm ở dữ liệu, giả định, giá trị hay mức sự dịch chuyển, mất cân bằng sinh thái và áp lực ngoài dự kiến lên các loài khác có thể chấp nhận.

  10. For work involving ecosystem management, after implementation, field surveys, population trends, and habitat data should be reviewed against predefined criteria so that success is not judged retrospectively by convenient measures.

    Đối với công việc liên quan đến quản lý hệ sinh thái, sau triển khai, khảo sát thực địa, xu hướng quần thể và dữ liệu sinh cảnh nên được rà soát theo tiêu chí xác định trước để thành công không bị đánh giá hồi cứu bằng các thước đo thuận tiện.

  11. During reviews of habitat planning, investment should focus first on the parts of the conservation intervention that address the clearest bottleneck under ecological responses can emerge slowly and unevenly.

    Trong các đợt rà soát về quy hoạch sinh cảnh, đầu tư trước hết nên tập trung vào những phần của biện pháp bảo tồn xử lý nút thắt rõ nhất dưới phản ứng sinh thái có thể xuất hiện chậm và không đồng đều.

  12. In decisions about conservation practice, ultimately, good judgement requires conservationists, ecologists, and local communities to balance evidence, reversibility, distributional effects, and uncertainty rather than optimising a single metric.

    Trong các quyết định về thực hành bảo tồn, cuối cùng, phán đoán tốt đòi hỏi các nhà bảo tồn, nhà sinh thái học và cộng đồng địa phương cân bằng bằng chứng, khả năng đảo ngược, tác động phân phối và bất định thay vì tối ưu một chỉ số duy nhất.