Mirror Neurons and Social Empathy · C1 · Luyện viết tiếng Anh

Mirror Neurons and Social Empathy · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trật tự từ và

12 câu luyện viết · Cognitive Science

  1. Within experimental psychology, the first stage is diagnostic rather than prescriptive: cognitive scientists, psychologists, and neuroscientists clarify the problem before choosing the tools used to address it.

    Trong phạm vi tâm lý học thực nghiệm, giai đoạn đầu mang tính chẩn đoán chứ không phải áp đặt giải pháp: nhà khoa học nhận thức, nhà tâm lý học và nhà thần kinh học làm rõ vấn đề trước khi chọn công cụ để xử lý nó.

  2. For behavioural analysis, what appears straightforward in mirror neurons and social empathy may become contested when participants and learners whose experiences differ value the same outcome differently.

    Đối với phân tích hành vi, điều tưởng như đơn giản trong neuron gương và sự đồng cảm xã hội có thể trở thành tranh cãi khi người tham gia và người học có trải nghiệm khác nhau đánh giá cùng một kết quả theo những cách khác nhau.

  3. In relation to cognitive research, independent scrutiny can reveal whether conclusions drawn from controlled experiments, behavioural data, and brain measurements survive changes in method, sample, or interpretation.

    Liên quan đến nghiên cứu nhận thức, thẩm tra độc lập có thể cho thấy liệu các kết luận rút ra từ thí nghiệm có kiểm soát, dữ liệu hành vi và số đo hoạt động não có đứng vững khi phương pháp, mẫu hoặc cách diễn giải thay đổi hay không.

  4. When discussing experimental psychology, a useful measure of replicability, effect size, and explanatory power must be defined before results are known, otherwise favourable indicators can be selected retrospectively.

    Khi thảo luận về tâm lý học thực nghiệm, một thước đo hữu ích về khả năng tái lập, cỡ hiệu ứng và sức mạnh giải thích phải được xác định trước khi biết kết quả, nếu không các chỉ báo thuận lợi có thể bị chọn hồi cứu.

  5. When considering behavioural analysis, changes in replicability, effect size, and explanatory power may reflect several interacting causes, so cognitive scientists, psychologists, and neuroscientists should avoid assigning all observed effects to a single factor.

    Khi xem xét phân tích hành vi, thay đổi về khả năng tái lập, cỡ hiệu ứng và sức mạnh giải thích có thể phản ánh nhiều nguyên nhân tương tác, vì vậy nhà khoa học nhận thức, nhà tâm lý học và nhà thần kinh học không nên quy mọi hiệu ứng quan sát được cho một yếu tố duy nhất.

  6. In assessments of cognitive research, a model can organise evidence usefully without capturing every influence on replicability, effect size, and explanatory power; that distinction should remain visible in the conclusion.

    Trong các đánh giá về nghiên cứu nhận thức, một mô hình có thể tổ chức bằng chứng hữu ích mà không phản ánh mọi ảnh hưởng lên khả năng tái lập, cỡ hiệu ứng và sức mạnh giải thích; sự phân biệt đó cần được giữ rõ trong kết luận.

  7. For work involving experimental psychology, consultation adds value only when evidence from participants and learners whose experiences differ can alter priorities, implementation details, or the decision itself.

    Đối với công việc liên quan đến tâm lý học thực nghiệm, tham vấn chỉ tạo ra giá trị khi bằng chứng từ người tham gia và người học có trải nghiệm khác nhau có thể làm thay đổi ưu tiên, chi tiết triển khai hoặc chính quyết định.

  8. During reviews of behavioural analysis, where resources are limited, the relevant question is which option protects participants and learners whose experiences differ most effectively for the constraints actually faced.

    Trong các đợt rà soát về phân tích hành vi, khi nguồn lực hạn chế, câu hỏi phù hợp là phương án nào bảo vệ người tham gia và người học có trải nghiệm khác nhau hiệu quả nhất trong những hạn chế thực tế đang tồn tại.

  9. In decisions about cognitive research, a cautious interpretation is not indecision; it is an attempt to keep the strength of the conclusion proportional to controlled experiments, behavioural data, and brain measurements.

    Trong các quyết định về nghiên cứu nhận thức, diễn giải thận trọng không phải là thiếu quyết đoán; đó là nỗ lực giữ độ mạnh của kết luận tương xứng với thí nghiệm có kiểm soát, dữ liệu hành vi và số đo hoạt động não.

  10. When evaluating experimental psychology, even if the central proposal remains defensible, objections about overgeneralisation, confounding variables, and exaggerated causal claims may justify narrower scope, stronger safeguards, or a slower timetable.

    Khi đánh giá tâm lý học thực nghiệm, ngay cả khi đề xuất trung tâm vẫn có thể bảo vệ, các phản đối về khái quát quá mức, biến nhiễu và tuyên bố nhân quả bị phóng đại có thể biện minh cho phạm vi hẹp hơn, biện pháp bảo vệ mạnh hơn hoặc lộ trình chậm hơn.

  11. With respect to behavioural analysis, cognitive scientists, psychologists, and neuroscientists should communicate both the expected gains and the remaining uncertainty, since overselling more precise explanations of cognition can weaken later trust.

    Đối với phân tích hành vi, nhà khoa học nhận thức, nhà tâm lý học và nhà thần kinh học nên truyền đạt cả lợi ích kỳ vọng lẫn bất định còn lại, vì phóng đại những giải thích chính xác hơn về nhận thức có thể làm suy yếu niềm tin về sau.

  12. In cognitive research, the practical implication is to pursue more precise explanations of cognition without assuming that one design of the experimental model will suit every context equally well.

    Trong nghiên cứu nhận thức, hàm ý thực tiễn là theo đuổi những giải thích chính xác hơn về nhận thức mà không giả định một thiết kế của mô hình thực nghiệm sẽ phù hợp như nhau với mọi bối cảnh.