Exposing Conflicts of Interest in Clinical Trials · C1 · Luyện viết tiếng Anh
Exposing Conflicts of Interest in Clinical Trials · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng
12 câu luyện viết · Investigative Journalism
When considering newsroom review, changes in corroboration, source protection, and public-interest value may reflect several interacting causes, so reporters, editors, and independent investigators should avoid assigning all observed effects to a single factor.
Khi xem xét rà soát tòa soạn, thay đổi về mức độ kiểm chứng chéo, bảo vệ nguồn tin và giá trị lợi ích công có thể phản ánh nhiều nguyên nhân tương tác, vì vậy phóng viên, biên tập viên và điều tra viên độc lập không nên quy mọi hiệu ứng quan sát được cho một yếu tố duy nhất.
In assessments of investigative reporting, what appears straightforward in exposing conflicts of interest in clinical trials may become contested when sources, readers, and people named in the investigation value the same outcome differently.
Trong các đánh giá về báo chí điều tra, điều tưởng như đơn giản trong phơi bày xung đột lợi ích trong thử nghiệm lâm sàng có thể trở thành tranh cãi khi nguồn tin, độc giả và những người được nêu tên trong cuộc điều tra đánh giá cùng một kết quả theo những cách khác nhau.
For work involving source verification, independent scrutiny can reveal whether conclusions drawn from documents, interviews, financial records, and verified digital material survive changes in method, sample, or interpretation.
Đối với công việc liên quan đến xác minh nguồn tin, thẩm tra độc lập có thể cho thấy liệu các kết luận rút ra từ tài liệu, phỏng vấn, hồ sơ tài chính và tư liệu số đã xác minh có đứng vững khi phương pháp, mẫu hoặc cách diễn giải thay đổi hay không.
During reviews of newsroom review, where resources are limited, the relevant question is which option protects sources, readers, and people named in the investigation most effectively for the constraints actually faced.
Trong các đợt rà soát về rà soát tòa soạn, khi nguồn lực hạn chế, câu hỏi phù hợp là phương án nào bảo vệ nguồn tin, độc giả và những người được nêu tên trong cuộc điều tra hiệu quả nhất trong những hạn chế thực tế đang tồn tại.
In decisions about investigative reporting, a model can organise evidence usefully without capturing every influence on corroboration, source protection, and public-interest value; that distinction should remain visible in the conclusion.
Trong các quyết định về báo chí điều tra, một mô hình có thể tổ chức bằng chứng hữu ích mà không phản ánh mọi ảnh hưởng lên mức độ kiểm chứng chéo, bảo vệ nguồn tin và giá trị lợi ích công; sự phân biệt đó cần được giữ rõ trong kết luận.
When evaluating source verification, a useful measure of corroboration, source protection, and public-interest value must be defined before results are known, otherwise favourable indicators can be selected retrospectively.
Khi đánh giá xác minh nguồn tin, một thước đo hữu ích về mức độ kiểm chứng chéo, bảo vệ nguồn tin và giá trị lợi ích công phải được xác định trước khi biết kết quả, nếu không các chỉ báo thuận lợi có thể bị chọn hồi cứu.
With respect to newsroom review, consultation adds value only when evidence from sources, readers, and people named in the investigation can alter priorities, implementation details, or the decision itself.
Đối với rà soát tòa soạn, tham vấn chỉ tạo ra giá trị khi bằng chứng từ nguồn tin, độc giả và những người được nêu tên trong cuộc điều tra có thể làm thay đổi ưu tiên, chi tiết triển khai hoặc chính quyết định.
In investigative reporting, a cautious interpretation is not indecision; it is an attempt to keep the strength of the conclusion proportional to documents, interviews, financial records, and verified digital material.
Trong báo chí điều tra, diễn giải thận trọng không phải là thiếu quyết đoán; đó là nỗ lực giữ độ mạnh của kết luận tương xứng với tài liệu, phỏng vấn, hồ sơ tài chính và tư liệu số đã xác minh.
Within source verification, even if the central proposal remains defensible, objections about source exposure, false inference, legal pressure, and manipulated evidence may justify narrower scope, stronger safeguards, or a slower timetable.
Trong phạm vi xác minh nguồn tin, ngay cả khi đề xuất trung tâm vẫn có thể bảo vệ, các phản đối về lộ nguồn tin, suy luận sai, áp lực pháp lý và bằng chứng bị thao túng có thể biện minh cho phạm vi hẹp hơn, biện pháp bảo vệ mạnh hơn hoặc lộ trình chậm hơn.
For newsroom review, if future evidence contradicts current assumptions, reporters, editors, and independent investigators should revise the investigative method rather than defending earlier decisions for reputational reasons.
Đối với rà soát tòa soạn, nếu bằng chứng tương lai mâu thuẫn với các giả định hiện tại, phóng viên, biên tập viên và điều tra viên độc lập nên điều chỉnh phương pháp điều tra thay vì bảo vệ quyết định trước đây vì lý do danh tiếng.
In relation to investigative reporting, reporters, editors, and independent investigators should communicate both the expected gains and the remaining uncertainty, since overselling well-substantiated reporting that can withstand scrutiny can weaken later trust.
Liên quan đến báo chí điều tra, phóng viên, biên tập viên và điều tra viên độc lập nên truyền đạt cả lợi ích kỳ vọng lẫn bất định còn lại, vì phóng đại bài điều tra có căn cứ vững và chịu được sự thẩm tra có thể làm suy yếu niềm tin về sau.
When discussing source verification, the practical implication is to pursue well-substantiated reporting that can withstand scrutiny without assuming that one design of the investigative method will suit every context equally well.
Khi thảo luận về xác minh nguồn tin, hàm ý thực tiễn là theo đuổi bài điều tra có căn cứ vững và chịu được sự thẩm tra mà không giả định một thiết kế của phương pháp điều tra sẽ phù hợp như nhau với mọi bối cảnh.