Fiscal Stimulus during Severe Recessions · C1 · Luyện viết tiếng Anh

Fiscal Stimulus during Severe Recessions · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trật tự

12 câu luyện viết · Macroeconomics

  1. Within economic analysis, what appears straightforward in fiscal stimulus during severe recessions may become contested when households and firms facing different borrowing and income conditions value the same outcome differently.

    Trong phạm vi phân tích kinh tế, điều tưởng như đơn giản trong kích thích tài khóa trong suy thoái nghiêm trọng có thể trở thành tranh cãi khi hộ gia đình và doanh nghiệp đối mặt với điều kiện vay vốn và thu nhập khác nhau đánh giá cùng một kết quả theo những cách khác nhau.

  2. For policy assessment, even if the central proposal remains defensible, objections about policy lags, distributional effects, and mistaken causal assumptions may justify narrower scope, stronger safeguards, or a slower timetable.

    Đối với đánh giá chính sách, ngay cả khi đề xuất trung tâm vẫn có thể bảo vệ, các phản đối về độ trễ chính sách, tác động phân phối và giả định nhân quả sai có thể biện minh cho phạm vi hẹp hơn, biện pháp bảo vệ mạnh hơn hoặc lộ trình chậm hơn.

  3. In relation to macroeconomic policy, independent scrutiny can reveal whether conclusions drawn from price data, labour indicators, national accounts, and market expectations survive changes in method, sample, or interpretation.

    Liên quan đến chính sách kinh tế vĩ mô, thẩm tra độc lập có thể cho thấy liệu các kết luận rút ra từ dữ liệu giá, chỉ báo lao động, tài khoản quốc gia và kỳ vọng thị trường có đứng vững khi phương pháp, mẫu hoặc cách diễn giải thay đổi hay không.

  4. When discussing economic analysis, consultation adds value only when evidence from households and firms facing different borrowing and income conditions can alter priorities, implementation details, or the decision itself.

    Khi thảo luận về phân tích kinh tế, tham vấn chỉ tạo ra giá trị khi bằng chứng từ hộ gia đình và doanh nghiệp đối mặt với điều kiện vay vốn và thu nhập khác nhau có thể làm thay đổi ưu tiên, chi tiết triển khai hoặc chính quyết định.

  5. When considering policy assessment, where resources are limited, the relevant question is which option protects households and firms facing different borrowing and income conditions most effectively for the constraints actually faced.

    Khi xem xét đánh giá chính sách, khi nguồn lực hạn chế, câu hỏi phù hợp là phương án nào bảo vệ hộ gia đình và doanh nghiệp đối mặt với điều kiện vay vốn và thu nhập khác nhau hiệu quả nhất trong những hạn chế thực tế đang tồn tại.

  6. In assessments of macroeconomic policy, a model can organise evidence usefully without capturing every influence on inflation, employment, output, and financial stability; that distinction should remain visible in the conclusion.

    Trong các đánh giá về chính sách kinh tế vĩ mô, một mô hình có thể tổ chức bằng chứng hữu ích mà không phản ánh mọi ảnh hưởng lên lạm phát, việc làm, sản lượng và ổn định tài chính; sự phân biệt đó cần được giữ rõ trong kết luận.

  7. For work involving economic analysis, if future evidence contradicts current assumptions, economists, central banks, finance ministries, and businesses should revise the policy framework rather than defending earlier decisions for reputational reasons.

    Đối với công việc liên quan đến phân tích kinh tế, nếu bằng chứng tương lai mâu thuẫn với các giả định hiện tại, nhà kinh tế, ngân hàng trung ương, bộ tài chính và doanh nghiệp nên điều chỉnh khung chính sách thay vì bảo vệ quyết định trước đây vì lý do danh tiếng.

  8. For economists, changes in inflation, employment, output, and financial stability may reflect several interacting causes, so economists, central banks, finance ministries, and businesses should avoid assigning all observed effects to a single factor.

    Đối với nhà kinh tế, thay đổi về lạm phát, việc làm, sản lượng và ổn định tài chính có thể phản ánh nhiều nguyên nhân tương tác, vì vậy nhà kinh tế, ngân hàng trung ương, bộ tài chính và doanh nghiệp không nên quy mọi hiệu ứng quan sát được cho một yếu tố duy nhất.

  9. In decisions about macroeconomic policy, a useful measure of inflation, employment, output, and financial stability must be defined before results are known, otherwise favourable indicators can be selected retrospectively.

    Trong các quyết định về chính sách kinh tế vĩ mô, một thước đo hữu ích về lạm phát, việc làm, sản lượng và ổn định tài chính phải được xác định trước khi biết kết quả, nếu không các chỉ báo thuận lợi có thể bị chọn hồi cứu.

  10. When evaluating economic analysis, economists, central banks, finance ministries, and businesses should communicate both the expected gains and the remaining uncertainty, since overselling more credible and proportionate macroeconomic decisions can weaken later trust.

    Khi đánh giá phân tích kinh tế, nhà kinh tế, ngân hàng trung ương, bộ tài chính và doanh nghiệp nên truyền đạt cả lợi ích kỳ vọng lẫn bất định còn lại, vì phóng đại quyết định kinh tế vĩ mô đáng tin cậy và tương xứng hơn có thể làm suy yếu niềm tin về sau.

  11. With respect to policy assessment, a cautious interpretation is not indecision; it is an attempt to keep the strength of the conclusion proportional to price data, labour indicators, national accounts, and market expectations.

    Đối với đánh giá chính sách, diễn giải thận trọng không phải là thiếu quyết đoán; đó là nỗ lực giữ độ mạnh của kết luận tương xứng với dữ liệu giá, chỉ báo lao động, tài khoản quốc gia và kỳ vọng thị trường.

  12. In macroeconomic policy, the practical implication is to pursue more credible and proportionate macroeconomic decisions without assuming that one design of the policy framework will suit every context equally well.

    Trong chính sách kinh tế vĩ mô, hàm ý thực tiễn là theo đuổi quyết định kinh tế vĩ mô đáng tin cậy và tương xứng hơn mà không giả định một thiết kế của khung chính sách sẽ phù hợp như nhau với mọi bối cảnh.