Property Bubbles and Systemic Banking Risk · C1 · Luyện viết tiếng Anh
Property Bubbles and Systemic Banking Risk · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trật
12 câu luyện viết · Macroeconomics
In decisions about macroeconomic policy, because economic indicators often move for several reasons at once, any explanation that assumes a simple one-way causal chain is likely to be incomplete.
Trong các quyết định về chính sách kinh tế vĩ mô, vì các chỉ báo kinh tế thường biến động do nhiều nguyên nhân cùng lúc, bất kỳ cách giải thích nào giả định một chuỗi nhân quả một chiều đơn giản đều có khả năng chưa đầy đủ.
When evaluating economic analysis, debate over property bubbles and systemic banking risk should begin by clarifying the practical problem and the surrounding constraints.
Khi đánh giá phân tích kinh tế, tranh luận về bong bóng bất động sản và rủi ro ngân hàng hệ thống nên bắt đầu bằng việc làm rõ vấn đề thực tiễn và các hạn chế xung quanh.
With respect to policy assessment, a single favourable result should carry limited weight unless price data, labour indicators, national accounts, and market expectations point in the same direction across different conditions.
Đối với đánh giá chính sách, một kết quả thuận lợi đơn lẻ chỉ nên có trọng lượng hạn chế trừ khi dữ liệu giá, chỉ báo lao động, tài khoản quốc gia và kỳ vọng thị trường cùng chỉ về một hướng trong các điều kiện khác nhau.
In macroeconomic policy, the cheaper option may look attractive initially, whereas the more resilient option could perform better once economic indicators often move for several reasons at once becomes important.
Trong chính sách kinh tế vĩ mô, phương án rẻ hơn có thể hấp dẫn lúc đầu, trong khi phương án bền vững hơn có thể hoạt động tốt hơn khi các chỉ báo kinh tế thường biến động do nhiều nguyên nhân cùng lúc trở nên quan trọng.
Within economic analysis, for property bubbles and systemic banking risk, an apparently precise estimate can still be fragile if small changes in assumptions produce substantially different conclusions.
Trong phạm vi phân tích kinh tế, đối với bong bóng bất động sản và rủi ro ngân hàng hệ thống, một ước lượng có vẻ chính xác vẫn có thể mong manh nếu thay đổi nhỏ trong giả định tạo ra kết luận khác biệt đáng kể.
For policy assessment, if households and firms facing different borrowing and income conditions experience outcomes differently, reporting only the average change in inflation, employment, output, and financial stability can hide important inequalities.
Đối với đánh giá chính sách, nếu hộ gia đình và doanh nghiệp đối mặt với điều kiện vay vốn và thu nhập khác nhau trải nghiệm kết quả khác nhau, chỉ báo cáo thay đổi trung bình về lạm phát, việc làm, sản lượng và ổn định tài chính có thể che giấu những bất bình đẳng quan trọng.
During policy review, decision quality improves when economists, central banks, finance ministries, and businesses explain how competing concerns from households and firms facing different borrowing and income conditions were weighed.
Trong rà soát chính sách, chất lượng quyết định được cải thiện khi nhà kinh tế, ngân hàng trung ương, bộ tài chính và doanh nghiệp không chỉ giải thích lựa chọn cuối cùng mà còn nêu cách cân nhắc các mối quan tâm cạnh tranh của hộ gia đình và doanh nghiệp đối mặt với điều kiện vay vốn và thu nhập khác nhau.
When discussing economic analysis, for property bubbles and systemic banking risk, if uncertainty is concentrated in one assumption, testing that assumption may be more informative than collecting more data indiscriminately.
Khi thảo luận về phân tích kinh tế, đối với bong bóng bất động sản và rủi ro ngân hàng hệ thống, nếu bất định tập trung ở một giả định, kiểm tra giả định đó có thể hữu ích hơn việc thu thập thêm dữ liệu một cách dàn trải.
Across markets, a sceptical view deserves attention when economists, central banks, finance ministries, and businesses cannot explain how policy lags, distributional effects, and mistaken causal assumptions would be recognised, measured, and corrected in practice.
Trên các thị trường, quan điểm hoài nghi đáng được chú ý khi nhà kinh tế, ngân hàng trung ương, bộ tài chính và doanh nghiệp không thể giải thích cách độ trễ chính sách, tác động phân phối và giả định nhân quả sai sẽ được nhận diện, đo lường và khắc phục trong thực tế.
In assessments of macroeconomic policy, where policy lags, distributional effects, and mistaken causal assumptions would be difficult to reverse, decision-makers should require stronger evidence than they would for a low-cost, reversible experiment.
Trong các đánh giá về chính sách kinh tế vĩ mô, khi độ trễ chính sách, tác động phân phối và giả định nhân quả sai khó đảo ngược, người ra quyết định nên yêu cầu bằng chứng mạnh hơn so với một thử nghiệm chi phí thấp và có thể đảo ngược.
During policy review, support is justified only if evidence for more credible and proportionate macroeconomic decisions remains credible after costs, uncertainty, and effects on households and firms facing different borrowing and income conditions are considered.
Trong rà soát chính sách, sự ủng hộ chỉ được biện minh nếu bằng chứng cho quyết định kinh tế vĩ mô đáng tin cậy và tương xứng hơn vẫn đáng tin sau khi cân nhắc chi phí, bất định và tác động lên hộ gia đình và doanh nghiệp đối mặt với điều kiện vay vốn và thu nhập khác nhau.
No single indicator settles the issue; a defensible judgement combines price data, labour indicators, national accounts, and market expectations, practical constraints, and the experience of households and firms facing different borrowing and income conditions.
Không một chỉ báo đơn lẻ nào quyết định vấn đề; phán đoán dễ bảo vệ cần kết hợp dữ liệu giá, chỉ báo lao động, tài khoản quốc gia và kỳ vọng thị trường, hạn chế thực tế và trải nghiệm của hộ gia đình và doanh nghiệp đối mặt với điều kiện vay vốn và thu nhập khác nhau.