Population Ageing and Long-Term Productivity · C1 · Luyện viết tiếng Anh
Population Ageing and Long-Term Productivity · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trậ
12 câu luyện viết · Macroeconomics
For work involving economic analysis, the review stage should ask not only whether inflation, employment, output, and financial stability improved, but also whether benefits persisted and unintended effects emerged elsewhere.
Đối với công việc liên quan đến phân tích kinh tế, giai đoạn rà soát không chỉ nên hỏi lạm phát, việc làm, sản lượng và ổn định tài chính có cải thiện hay không, mà còn xem lợi ích có duy trì và tác động ngoài dự kiến có xuất hiện ở nơi khác hay không.
For economists, rather than asking whether population ageing and long-term productivity is simply good or bad, economists, central banks, finance ministries, and businesses should examine the conditions under which it performs well.
Đối với nhà kinh tế, thay vì hỏi già hóa dân số và năng suất dài hạn đơn giản là tốt hay xấu, nhà kinh tế, ngân hàng trung ương, bộ tài chính và doanh nghiệp nên xem xét những điều kiện khiến nó phát huy hiệu quả.
Across markets, the case becomes more credible when price data, labour indicators, national accounts, and market expectations are linked to a clearly defined measure of inflation, employment, output, and financial stability rather than impressions alone.
Trên các thị trường, lập luận trở nên đáng tin hơn khi dữ liệu giá, chỉ báo lao động, tài khoản quốc gia và kỳ vọng thị trường được gắn với thước đo xác định rõ về lạm phát, việc làm, sản lượng và ổn định tài chính thay vì chỉ dựa vào ấn tượng.
When evaluating economic analysis, the chosen indicators should respond to meaningful change in the policy framework, not merely fluctuate because measurement conditions are unstable.
Khi đánh giá phân tích kinh tế, các chỉ báo được chọn nên phản ứng với thay đổi có ý nghĩa trong khung chính sách, chứ không chỉ dao động vì điều kiện đo lường thiếu ổn định.
With respect to policy assessment, mechanistic reasoning is particularly useful when price data, labour indicators, national accounts, and market expectations show a pattern but cannot, on their own, explain why that pattern occurs.
Đối với đánh giá chính sách, lập luận theo cơ chế đặc biệt hữu ích khi dữ liệu giá, chỉ báo lao động, tài khoản quốc gia và kỳ vọng thị trường cho thấy một mô hình nhưng tự chúng không thể giải thích vì sao mô hình đó xuất hiện.
In macroeconomic policy, a major limitation is that economic indicators often move for several reasons at once, which makes confident generalisation beyond national economies and interconnected financial markets difficult to justify.
Trong chính sách kinh tế vĩ mô, một hạn chế lớn là các chỉ báo kinh tế thường biến động do nhiều nguyên nhân cùng lúc, khiến việc khái quát chắc chắn ra ngoài nền kinh tế quốc gia và thị trường tài chính liên kết khó được biện minh.
Within economic analysis, meaningful participation requires accessible information, since households and firms facing different borrowing and income conditions cannot evaluate trade-offs that are hidden behind technical language.
Trong phạm vi phân tích kinh tế, sự tham gia có ý nghĩa đòi hỏi thông tin dễ tiếp cận, vì hộ gia đình và doanh nghiệp đối mặt với điều kiện vay vốn và thu nhập khác nhau không thể đánh giá những đánh đổi bị che khuất sau ngôn ngữ kỹ thuật.
In macroeconomics, one approach may prioritise more credible and proportionate macroeconomic decisions, while another offers greater protection against policy lags, distributional effects, and mistaken causal assumptions; the choice depends on the decision-maker’s priorities.
Trong kinh tế vĩ mô, một cách tiếp cận có thể ưu tiên quyết định kinh tế vĩ mô đáng tin cậy và tương xứng hơn, trong khi cách khác bảo vệ tốt hơn trước độ trễ chính sách, tác động phân phối và giả định nhân quả sai; lựa chọn phụ thuộc vào ưu tiên của người ra quyết định.
In relation to macroeconomic policy, for population ageing and long-term productivity, a robust decision performs reasonably well across plausible futures, even if no forecast can identify exactly which future will occur.
Liên quan đến chính sách kinh tế vĩ mô, đối với già hóa dân số và năng suất dài hạn, một quyết định vững vàng hoạt động đủ tốt trong nhiều tương lai khả dĩ, ngay cả khi không dự báo nào xác định chính xác tương lai nào sẽ xảy ra.
When discussing economic analysis, for population ageing and long-term productivity, the case against intervention weakens when it assumes current practice is risk-free, since maintaining the status quo can also produce harm.
Khi thảo luận về phân tích kinh tế, đối với già hóa dân số và năng suất dài hạn, lập luận chống can thiệp yếu đi khi giả định thực hành hiện tại không có rủi ro, vì duy trì nguyên trạng cũng có thể gây tổn hại.
Across markets, economists, central banks, finance ministries, and businesses should prioritise measures that advance more credible and proportionate macroeconomic decisions without obscuring risks such as policy lags, distributional effects, and mistaken causal assumptions.
Trên các thị trường, nhà kinh tế, ngân hàng trung ương, bộ tài chính và doanh nghiệp nên ưu tiên các biện pháp thúc đẩy quyết định kinh tế vĩ mô đáng tin cậy và tương xứng hơn mà không che khuất các rủi ro như độ trễ chính sách, tác động phân phối và giả định nhân quả sai.
In macroeconomics, a reasonable conclusion is neither unconditional endorsement nor complete rejection, but a proportionate response to price data, labour indicators, national accounts, and market expectations and policy lags, distributional effects, and mistaken causal assumptions.
Trong kinh tế vĩ mô, một kết luận hợp lý không phải ủng hộ vô điều kiện hay bác bỏ hoàn toàn, mà là phản ứng tương xứng với dữ liệu giá, chỉ báo lao động, tài khoản quốc gia và kỳ vọng thị trường và độ trễ chính sách, tác động phân phối và giả định nhân quả sai.