Smart Inverters and Rooftop Solar Systems · C1 · Luyện viết tiếng Anh

Smart Inverters and Rooftop Solar Systems · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trật t

12 câu luyện viết · Renewable Energy

  1. During grid planning, a defensible process begins by defining reliability, emissions, cost, and material efficiency, then gathers performance data, lifecycle assessments, and grid measurements, tests assumptions, and records why the preferred option was selected.

    Trong quy hoạch lưới điện, một quy trình dễ bảo vệ bắt đầu bằng việc xác định độ tin cậy, phát thải, chi phí và hiệu quả vật liệu, sau đó thu thập dữ liệu hiệu suất, đánh giá vòng đời và số đo lưới điện, kiểm tra giả định và ghi lại lý do chọn phương án ưu tiên.

  2. In energy engineering, a useful starting point for smart inverters and rooftop solar systems is to identify who makes the decision, who bears the consequences, and what evidence is available.

    Trong kỹ thuật năng lượng, điểm khởi đầu hữu ích cho biến tần thông minh và hệ thống điện mặt trời mái nhà là xác định ai ra quyết định, ai chịu hệ quả và hiện có bằng chứng nào.

  3. Across energy systems, engineers, grid operators, developers, and regulators can strengthen their reasoning by publishing the assumptions used to interpret performance data, lifecycle assessments, and grid measurements, especially when the findings remain uncertain.

    Trong các hệ thống năng lượng, kỹ sư, đơn vị vận hành lưới điện, nhà phát triển và cơ quan quản lý có thể củng cố lập luận bằng cách công khai các giả định dùng để diễn giải dữ liệu hiệu suất, đánh giá vòng đời và số đo lưới điện, đặc biệt khi phát hiện vẫn còn bất định.

  4. For power-system planning, changes in reliability, emissions, cost, and material efficiency should be interpreted alongside performance data, lifecycle assessments, and grid measurements, since similar numerical trends can arise from different underlying causes.

    Đối với quy hoạch hệ thống điện, thay đổi về độ tin cậy, phát thải, chi phí và hiệu quả vật liệu nên được diễn giải cùng dữ liệu hiệu suất, đánh giá vòng đời và số đo lưới điện, vì xu hướng số liệu tương tự có thể xuất phát từ những nguyên nhân nền tảng khác nhau.

  5. In relation to energy engineering, engineers, grid operators, developers, and regulators should describe the pathway from intervention to outcome rather than assuming that an association automatically establishes causation.

    Liên quan đến kỹ thuật năng lượng, kỹ sư, đơn vị vận hành lưới điện, nhà phát triển và cơ quan quản lý nên mô tả con đường từ can thiệp đến kết quả thay vì cho rằng một mối liên hệ tự động chứng minh quan hệ nhân quả.

  6. For engineers, one unresolved weakness is that reliability, emissions, cost, and material efficiency may improve while less visible harms to communities, consumers, and workers affected by new infrastructure remain outside the measurement framework.

    Đối với kỹ sư, một điểm yếu chưa được giải quyết là độ tin cậy, phát thải, chi phí và hiệu quả vật liệu có thể cải thiện trong khi những tổn hại khó thấy hơn đối với cộng đồng, người tiêu dùng và người lao động chịu tác động của hạ tầng mới vẫn nằm ngoài khung đo lường.

  7. Across energy systems, because communities, consumers, and workers affected by new infrastructure are not a single group, engineers, grid operators, developers, and regulators should avoid treating one consultation response as representative of everyone affected.

    Trong các hệ thống năng lượng, vì cộng đồng, người tiêu dùng và người lao động chịu tác động của hạ tầng mới không phải một nhóm đồng nhất, kỹ sư, đơn vị vận hành lưới điện, nhà phát triển và cơ quan quản lý không nên coi một phản hồi tham vấn là đại diện cho tất cả những người chịu tác động.

  8. In assessments of energy engineering, favourable short-term results on reliability, emissions, cost, and material efficiency should be weighed against longer-term exposure to intermittency, material constraints, and poorly managed local impacts before success is claimed.

    Trong các đánh giá về kỹ thuật năng lượng, kết quả ngắn hạn thuận lợi về độ tin cậy, phát thải, chi phí và hiệu quả vật liệu nên được cân nhắc với mức phơi nhiễm dài hạn trước tính gián đoạn, hạn chế vật liệu và tác động địa phương được quản lý kém trước khi tuyên bố thành công.

  9. During grid planning, the possibility of intermittency, material constraints, and poorly managed local impacts does not establish that harm will occur, but it may justify precaution when the consequences would be difficult to reverse.

    Trong quy hoạch lưới điện, khả năng xảy ra tính gián đoạn, hạn chế vật liệu và tác động địa phương được quản lý kém không chứng minh rằng tổn hại chắc chắn xuất hiện, nhưng có thể biện minh cho thận trọng khi hệ quả khó đảo ngược.

  10. During reviews of power-system planning, conversely, demanding perfect certainty before acting may be unreasonable when delay itself threatens lower-carbon energy with dependable system performance or exposes people to continuing harm.

    Trong các đợt rà soát về quy hoạch hệ thống điện, ngược lại, đòi hỏi chắc chắn tuyệt đối trước khi hành động có thể không hợp lý khi sự chậm trễ tự nó đe dọa năng lượng ít carbon hơn cùng hiệu suất hệ thống đáng tin cậy hoặc khiến tổn hại tiếp diễn.

  11. In decisions about energy engineering, where communities, consumers, and workers affected by new infrastructure face unequal risks, safeguards should be designed before implementation rather than added after complaints accumulate.

    Trong các quyết định về kỹ thuật năng lượng, khi cộng đồng, người tiêu dùng và người lao động chịu tác động của hạ tầng mới đối mặt với rủi ro không đồng đều, biện pháp bảo vệ nên được thiết kế trước triển khai thay vì chỉ bổ sung sau khi khiếu nại tích tụ.

  12. When evaluating renewable deployment, support should remain conditional while reliability, emissions, cost, and material efficiency improve and safeguards against intermittency, material constraints, and poorly managed local impacts remain effective.

    Khi đánh giá triển khai năng lượng tái tạo, sự ủng hộ nên tiếp tục có điều kiện khi độ tin cậy, phát thải, chi phí và hiệu quả vật liệu cải thiện và các biện pháp bảo vệ trước tính gián đoạn, hạn chế vật liệu và tác động địa phương được quản lý kém vẫn hiệu quả.