Reproducibility Audits in Experimental Psychology · C1 · Luyện viết tiếng Anh
Reproducibility Audits in Experimental Psychology · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng
12 câu luyện viết · Scientific Research
For work involving methodological review, rather than asking whether reproducibility audits in experimental psychology is simply good or bad, researchers, peer reviewers, and laboratory teams should examine the conditions under which it performs well.
Đối với công việc liên quan đến rà soát phương pháp, thay vì hỏi kiểm toán khả năng tái lập trong tâm lý học thực nghiệm đơn giản là tốt hay xấu, nhà nghiên cứu, người bình duyệt và nhóm phòng thí nghiệm nên xem xét những điều kiện khiến nó phát huy hiệu quả.
During reviews of research practice, for reproducibility audits in experimental psychology, the case against intervention weakens when it assumes current practice is risk-free, since maintaining the status quo can also produce harm.
Trong các đợt rà soát về thực hành nghiên cứu, đối với kiểm toán khả năng tái lập trong tâm lý học thực nghiệm, lập luận chống can thiệp yếu đi khi giả định thực hành hiện tại không có rủi ro, vì duy trì nguyên trạng cũng có thể gây tổn hại.
Across studies, the case becomes more credible when methods, datasets, replication attempts, and measurement records are linked to a clearly defined measure of reproducibility, precision, uncertainty, and practical significance rather than impressions alone.
Giữa các nghiên cứu, lập luận trở nên đáng tin hơn khi phương pháp, bộ dữ liệu, nỗ lực tái lập và hồ sơ đo lường được gắn với thước đo xác định rõ về khả năng tái lập, độ chính xác, độ bất định và ý nghĩa thực tiễn thay vì chỉ dựa vào ấn tượng.
When evaluating methodological review, meaningful participation requires accessible information, since participants, funders, and researchers building on earlier work cannot evaluate trade-offs that are hidden behind technical language.
Khi đánh giá rà soát phương pháp, sự tham gia có ý nghĩa đòi hỏi thông tin dễ tiếp cận, vì người tham gia, bên tài trợ và các nhà nghiên cứu dựa trên công trình trước đó không thể đánh giá những đánh đổi bị che khuất sau ngôn ngữ kỹ thuật.
One approach may prioritise research conclusions that remain credible under scrutiny, while another offers greater protection against selective reporting, measurement error, and claims that exceed the evidence; the choice depends on the decision-maker’s priorities.
Một cách tiếp cận có thể ưu tiên kết luận nghiên cứu vẫn đáng tin khi bị thẩm tra, trong khi cách khác bảo vệ tốt hơn trước báo cáo có chọn lọc, sai số đo lường và các tuyên bố vượt quá bằng chứng; lựa chọn phụ thuộc vào ưu tiên của người ra quyết định.
In scientific research, a major limitation is that complex systems rarely yield certainty from a single study, which makes confident generalisation beyond laboratories, field sites, and peer-review processes difficult to justify.
Trong nghiên cứu khoa học, một hạn chế lớn là các hệ thống phức tạp hiếm khi cho phép kết luận chắc chắn từ một nghiên cứu duy nhất, khiến việc khái quát chắc chắn ra ngoài phòng thí nghiệm, địa điểm thực địa và quy trình bình duyệt khó được biện minh.
Across studies, even when initial conditions are favourable, continued support should depend on whether reproducibility, precision, uncertainty, and practical significance improve without unacceptable increases in selective reporting, measurement error, and claims that exceed the evidence.
Giữa các nghiên cứu, ngay cả khi điều kiện ban đầu thuận lợi, việc tiếp tục hỗ trợ nên phụ thuộc vào việc khả năng tái lập, độ chính xác, độ bất định và ý nghĩa thực tiễn có cải thiện mà không làm báo cáo có chọn lọc, sai số đo lường và các tuyên bố vượt quá bằng chứng tăng đến mức không chấp nhận được hay không.
For research practice, mechanistic reasoning is particularly useful when methods, datasets, replication attempts, and measurement records show a pattern but cannot, on their own, explain why that pattern occurs.
Đối với thực hành nghiên cứu, lập luận theo cơ chế đặc biệt hữu ích khi phương pháp, bộ dữ liệu, nỗ lực tái lập và hồ sơ đo lường cho thấy một mô hình nhưng tự chúng không thể giải thích vì sao mô hình đó xuất hiện.
In relation to scientific research, the chosen indicators should respond to meaningful change in the research design, not merely fluctuate because measurement conditions are unstable.
Liên quan đến nghiên cứu khoa học, các chỉ báo được chọn nên phản ứng với thay đổi có ý nghĩa trong thiết kế nghiên cứu, chứ không chỉ dao động vì điều kiện đo lường thiếu ổn định.
For researchers, researchers, peer reviewers, and laboratory teams should prioritise measures that advance research conclusions that remain credible under scrutiny without obscuring risks such as selective reporting, measurement error, and claims that exceed the evidence.
Đối với nhà nghiên cứu, nhà nghiên cứu, người bình duyệt và nhóm phòng thí nghiệm nên ưu tiên các biện pháp thúc đẩy kết luận nghiên cứu vẫn đáng tin khi bị thẩm tra mà không che khuất các rủi ro như báo cáo có chọn lọc, sai số đo lường và các tuyên bố vượt quá bằng chứng.
When considering research practice, for reproducibility audits in experimental psychology, a robust decision performs reasonably well across plausible futures, even if no forecast can identify exactly which future will occur.
Khi xem xét thực hành nghiên cứu, đối với kiểm toán khả năng tái lập trong tâm lý học thực nghiệm, một quyết định vững vàng hoạt động đủ tốt trong nhiều tương lai khả dĩ, ngay cả khi không dự báo nào xác định chính xác tương lai nào sẽ xảy ra.
In research, a reasonable conclusion is neither unconditional endorsement nor complete rejection, but a proportionate response to methods, datasets, replication attempts, and measurement records and selective reporting, measurement error, and claims that exceed the evidence.
Trong nghiên cứu, một kết luận hợp lý không phải ủng hộ vô điều kiện hay bác bỏ hoàn toàn, mà là phản ứng tương xứng với phương pháp, bộ dữ liệu, nỗ lực tái lập và hồ sơ đo lường và báo cáo có chọn lọc, sai số đo lường và các tuyên bố vượt quá bằng chứng.