Modelling Drug Binding through Computational Chemistry · C1 · Luyện viết tiếng Anh

Modelling Drug Binding through Computational Chemistry · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ

12 câu luyện viết · Scientific Research

  1. With respect to research practice, discussion of modelling drug binding through computational chemistry is more productive when researchers, peer reviewers, and laboratory teams distinguish operational constraints from disagreements about values or priorities.

    Đối với thực hành nghiên cứu, thảo luận về mô hình hóa liên kết thuốc bằng hóa học tính toán hiệu quả hơn khi nhà nghiên cứu, người bình duyệt và nhóm phòng thí nghiệm phân biệt hạn chế vận hành với bất đồng về giá trị hoặc ưu tiên.

  2. In scientific research, researchers, peer reviewers, and laboratory teams should distinguish disagreement based on values from disagreement caused by unequal access to methods, datasets, replication attempts, and measurement records.

    Trong nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu, người bình duyệt và nhóm phòng thí nghiệm nên phân biệt bất đồng dựa trên giá trị với bất đồng do khả năng tiếp cận phương pháp, bộ dữ liệu, nỗ lực tái lập và hồ sơ đo lường không bình đẳng.

  3. Across studies, researchers, peer reviewers, and laboratory teams should compare methods, datasets, replication attempts, and measurement records with reproducibility, precision, uncertainty, and practical significance before treating any apparent pattern as reliable evidence.

    Giữa các nghiên cứu, nhà nghiên cứu, người bình duyệt và nhóm phòng thí nghiệm nên đối chiếu phương pháp, bộ dữ liệu, nỗ lực tái lập và hồ sơ đo lường với khả năng tái lập, độ chính xác, độ bất định và ý nghĩa thực tiễn trước khi coi bất kỳ mô hình quan sát được nào là bằng chứng đáng tin cậy.

  4. For research practice, had selective reporting, measurement error, and claims that exceed the evidence been modelled across several scenarios, the final recommendation might have distinguished routine uncertainty from genuinely dangerous outcomes.

    Đối với thực hành nghiên cứu, nếu báo cáo có chọn lọc, sai số đo lường và các tuyên bố vượt quá bằng chứng được mô hình hóa qua nhiều kịch bản, khuyến nghị cuối cùng có thể đã phân biệt bất định thông thường với kết quả thực sự nguy hiểm.

  5. In relation to scientific research, by tracing each stage of the research design, researchers, peer reviewers, and laboratory teams can identify where expected benefits are lost and where unexpected risks first emerge.

    Liên quan đến nghiên cứu khoa học, bằng cách lần theo từng giai đoạn của thiết kế nghiên cứu, nhà nghiên cứu, người bình duyệt và nhóm phòng thí nghiệm có thể xác định nơi lợi ích kỳ vọng bị mất và nơi rủi ro ngoài dự kiến xuất hiện đầu tiên.

  6. When discussing methodological review, although both approaches may improve reproducibility, precision, uncertainty, and practical significance, their consequences differ once distribution, uncertainty, and implementation capacity are considered together.

    Khi thảo luận về rà soát phương pháp, mặc dù cả hai cách tiếp cận đều có thể cải thiện khả năng tái lập, độ chính xác, độ bất định và ý nghĩa thực tiễn, hệ quả của chúng khác nhau khi xét đồng thời phân phối, bất định và năng lực triển khai.

  7. Across studies, the proposal remains vulnerable to selective reporting, measurement error, and claims that exceed the evidence unless researchers, peer reviewers, and laboratory teams specify how failures will be detected early enough to change course.

    Giữa các nghiên cứu, đề xuất vẫn dễ bị tác động bởi báo cáo có chọn lọc, sai số đo lường và các tuyên bố vượt quá bằng chứng trừ khi nhà nghiên cứu, người bình duyệt và nhóm phòng thí nghiệm nêu rõ cách phát hiện thất bại đủ sớm để đổi hướng.

  8. In assessments of scientific research, for modelling drug binding through computational chemistry, scenario analysis can make uncertainty more useful by showing how the preferred option changes when key assumptions are varied.

    Trong các đánh giá về nghiên cứu khoa học, đối với mô hình hóa liên kết thuốc bằng hóa học tính toán, phân tích kịch bản có thể biến bất định thành thông tin hữu ích bằng cách cho thấy phương án ưu tiên thay đổi thế nào khi các giả định chính được điều chỉnh.

  9. For work involving methodological review, a staged sequence makes sense where selective reporting, measurement error, and claims that exceed the evidence is uncertain: start small, monitor closely, and widen the intervention only after review.

    Đối với công việc liên quan đến rà soát phương pháp, một trình tự theo giai đoạn hợp lý khi báo cáo có chọn lọc, sai số đo lường và các tuyên bố vượt quá bằng chứng còn bất định: bắt đầu ở quy mô nhỏ, theo dõi chặt và chỉ mở rộng can thiệp sau khi rà soát.

  10. During reviews of research practice, measurement becomes misleading when a convenient proxy for reproducibility, precision, uncertainty, and practical significance is treated as though it were the outcome itself.

    Trong các đợt rà soát về thực hành nghiên cứu, đo lường trở nên gây hiểu lầm khi một chỉ báo thay thế thuận tiện cho khả năng tái lập, độ chính xác, độ bất định và ý nghĩa thực tiễn bị coi như chính kết quả cần đo.

  11. In decisions about scientific research, rather than choosing the most ambitious option, researchers, peer reviewers, and laboratory teams should select the version that can be monitored credibly with available resources.

    Trong các quyết định về nghiên cứu khoa học, thay vì chọn phương án tham vọng nhất, nhà nghiên cứu, người bình duyệt và nhóm phòng thí nghiệm nên chọn phiên bản có thể được giám sát đáng tin cậy bằng nguồn lực hiện có.

  12. When evaluating methodological review, overall, modelling drug binding through computational chemistry merits cautious progress while the evidence improves and safeguards remain effective.

    Khi đánh giá rà soát phương pháp, xét tổng thể, mô hình hóa liên kết thuốc bằng hóa học tính toán nên được thúc đẩy thận trọng khi bằng chứng tốt lên và các biện pháp bảo vệ vẫn hiệu quả.