Resolving Deadlocks in Collective Bargaining · C1 · Luyện viết tiếng Anh

Resolving Deadlocks in Collective Bargaining · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trậ

12 câu luyện viết · Strategic Negotiation

  1. In strategic negotiation, in examining resolving deadlocks in collective bargaining, negotiators, advisers, and decision-makers need to separate the immediate problem from the wider conditions that shape it.

    Trong đàm phán chiến lược, khi xem xét phá bế tắc trong thương lượng tập thể, nhà đàm phán, cố vấn và người ra quyết định cần tách vấn đề trước mắt khỏi các điều kiện rộng hơn đang định hình nó.

  2. Within bargaining practice, not all available information is equally informative; negotiators, advisers, and decision-makers should distinguish direct observations from assumptions embedded in the negotiation strategy.

    Trong phạm vi thực hành thương lượng, không phải mọi thông tin sẵn có đều có giá trị như nhau; nhà đàm phán, cố vấn và người ra quyết định nên phân biệt quan sát trực tiếp với các giả định nằm trong chiến lược đàm phán.

  3. For deal assessment, a convincing account links changes in value created, risk retained, and durability of agreement to observable steps within the negotiation strategy, while acknowledging where the causal chain remains uncertain.

    Đối với đánh giá thỏa thuận, một phân tích thuyết phục liên kết thay đổi về giá trị được tạo ra, rủi ro còn lại và độ bền của thỏa thuận với các bước có thể quan sát trong chiến lược đàm phán, đồng thời thừa nhận nơi chuỗi nhân quả vẫn còn bất định.

  4. Across parties, even carefully collected offers, underlying interests, credible alternatives, and counterpart behaviour cannot answer every question when information is incomplete and incentives are not fully aligned, so residual uncertainty should be reported explicitly.

    Giữa các bên, ngay cả đề nghị, lợi ích nền tảng, phương án thay thế đáng tin cậy và hành vi của đối tác được thu thập cẩn thận cũng không thể trả lời mọi câu hỏi khi thông tin không đầy đủ và động lực giữa các bên không hoàn toàn đồng nhất, vì vậy độ bất định còn lại cần được nêu rõ.

  5. When discussing bargaining practice, rather than comparing action with inaction, negotiators, advisers, and decision-makers should compare realistic alternatives that differ in cost, reversibility, and expected effect.

    Khi thảo luận về thực hành thương lượng, thay vì so sánh hành động với không hành động, nhà đàm phán, cố vấn và người ra quyết định nên so sánh các phương án thực tế khác nhau về chi phí, khả năng đảo ngược và hiệu quả kỳ vọng.

  6. When considering deal assessment, even well-intentioned reforms may fail if negotiators, advisers, and decision-makers underestimate how daily routines and incentives shape the responses of parties whose priorities and bargaining power differ.

    Khi xem xét đánh giá thỏa thuận, ngay cả cải cách có thiện ý cũng có thể thất bại nếu nhà đàm phán, cố vấn và người ra quyết định đánh giá thấp cách thói quen hằng ngày và động lực định hình phản ứng của các bên có ưu tiên và sức mạnh thương lượng khác nhau.

  7. In assessments of strategic negotiation, negotiators, advisers, and decision-makers need a baseline for value created, risk retained, and durability of agreement; without one, claims of improvement depend too heavily on memory or selective comparison.

    Trong các đánh giá về đàm phán chiến lược, nhà đàm phán, cố vấn và người ra quyết định cần đường cơ sở cho giá trị được tạo ra, rủi ro còn lại và độ bền của thỏa thuận; nếu không, tuyên bố về cải thiện sẽ phụ thuộc quá nhiều vào trí nhớ hoặc so sánh có chọn lọc.

  8. For work involving bargaining practice, a balanced assessment should ask whether criticism targets the principle of the negotiation strategy or merely weaknesses in its present implementation.

    Đối với công việc liên quan đến thực hành thương lượng, đánh giá cân bằng nên hỏi liệu phê bình nhắm vào nguyên tắc của chiến lược đàm phán hay chỉ vào điểm yếu trong cách triển khai hiện tại.

  9. During reviews of deal assessment, if information is incomplete and incentives are not fully aligned, and no option performs well, acknowledging the trade-off is more responsible than projecting false certainty.

    Trong các đợt rà soát về đánh giá thỏa thuận, nếu thông tin không đầy đủ và động lực giữa các bên không hoàn toàn đồng nhất và không phương án nào hoạt động tốt, thừa nhận sự đánh đổi có trách nhiệm hơn việc tạo ra cảm giác chắc chắn giả tạo.

  10. In decisions about strategic negotiation, where information is incomplete and incentives are not fully aligned, implementation should include contingency steps rather than assuming the original plan will remain suitable throughout.

    Trong các quyết định về đàm phán chiến lược, khi thông tin không đầy đủ và động lực giữa các bên không hoàn toàn đồng nhất, quá trình triển khai nên có các bước dự phòng thay vì giả định kế hoạch ban đầu sẽ luôn phù hợp.

  11. When evaluating bargaining practice, a cautious expansion is preferable to immediate full adoption because information is incomplete and incentives are not fully aligned makes local learning valuable before larger commitments are made.

    Khi đánh giá thực hành thương lượng, mở rộng thận trọng phù hợp hơn áp dụng toàn diện ngay lập tức vì thông tin không đầy đủ và động lực giữa các bên không hoàn toàn đồng nhất khiến việc học từ bối cảnh địa phương có giá trị trước các cam kết lớn hơn.

  12. With respect to deal assessment, what matters most is whether the negotiation strategy remains transparent, revisable, and responsive to new evidence once it moves beyond initial testing.

    Đối với đánh giá thỏa thuận, điều quan trọng nhất là liệu chiến lược đàm phán có duy trì tính minh bạch, khả năng điều chỉnh và phản ứng với bằng chứng mới sau giai đoạn thử nghiệm ban đầu hay không.