Sponge City Infrastructure and Rainwater Absorption · C1 · Luyện viết tiếng Anh

Sponge City Infrastructure and Rainwater Absorption · C1 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vự

12 câu luyện viết · Urban Sustainability

  1. With respect to city design, mechanistic reasoning is particularly useful when travel patterns, environmental measurements, land-use data, and resident feedback show a pattern but cannot, on their own, explain why that pattern occurs.

    Đối với thiết kế thành phố, lập luận theo cơ chế đặc biệt hữu ích khi mô hình đi lại, số đo môi trường, dữ liệu sử dụng đất và phản hồi của cư dân cho thấy một mô hình nhưng tự chúng không thể giải thích vì sao mô hình đó xuất hiện.

  2. For planners, rather than asking whether sponge city infrastructure and rainwater absorption is simply good or bad, urban planners, transport agencies, utilities, and residents should examine the conditions under which it performs well.

    Đối với nhà quy hoạch, thay vì hỏi hạ tầng thành phố bọt biển và hấp thụ nước mưa đơn giản là tốt hay xấu, nhà quy hoạch đô thị, cơ quan giao thông, đơn vị tiện ích và cư dân nên xem xét những điều kiện khiến nó phát huy hiệu quả.

  3. The case becomes more credible when travel patterns, environmental measurements, land-use data, and resident feedback are linked to a defined measure of accessibility, emissions, resilience, and quality of public space rather than impressions alone.

    Lập luận trở nên đáng tin hơn khi mô hình đi lại, số đo môi trường, dữ liệu sử dụng đất và phản hồi của cư dân được gắn với thước đo xác định về khả năng tiếp cận, phát thải, sức chống chịu và chất lượng không gian công cộng thay vì chỉ dựa vào ấn tượng.

  4. In urban planning, one approach may prioritise healthier, lower-carbon, and more accessible neighbourhoods, while another offers greater protection against displacement, maintenance burdens, and benefits concentrated in affluent areas; the choice depends on the decision-maker’s priorities.

    Trong quy hoạch đô thị, một cách tiếp cận có thể ưu tiên các khu dân cư lành mạnh hơn, ít carbon hơn và dễ tiếp cận hơn, trong khi cách khác bảo vệ tốt hơn trước dịch chuyển dân cư, gánh nặng bảo trì và lợi ích tập trung ở khu vực giàu có; lựa chọn phụ thuộc vào ưu tiên của người ra quyết định.

  5. During design review, a major limitation is that land, budgets, and existing infrastructure limit what can change quickly, which makes confident generalisation beyond streets, neighbourhoods, transport corridors, and public spaces difficult to justify.

    Trong rà soát thiết kế, một hạn chế lớn là đất đai, ngân sách và hạ tầng hiện có giới hạn tốc độ thay đổi, khiến việc khái quát chắc chắn ra ngoài đường phố, khu dân cư, hành lang giao thông và không gian công cộng khó được biện minh.

  6. When discussing sustainability planning, the chosen indicators should respond to meaningful change in the urban intervention, not merely fluctuate because measurement conditions are unstable.

    Khi thảo luận về quy hoạch bền vững, các chỉ báo được chọn nên phản ứng với thay đổi có ý nghĩa trong can thiệp đô thị, chứ không chỉ dao động vì điều kiện đo lường thiếu ổn định.

  7. When considering city design, meaningful participation requires accessible information, since residents with different incomes, mobility needs, and travel patterns cannot evaluate trade-offs that are hidden behind technical language.

    Khi xem xét thiết kế thành phố, sự tham gia có ý nghĩa đòi hỏi thông tin dễ tiếp cận, vì cư dân có thu nhập, nhu cầu di chuyển và thói quen đi lại khác nhau không thể đánh giá những đánh đổi bị che khuất sau ngôn ngữ kỹ thuật.

  8. In assessments of urban planning, for sponge city infrastructure and rainwater absorption, a robust decision performs reasonably well across plausible futures, even if no forecast can identify exactly which future will occur.

    Trong các đánh giá về quy hoạch đô thị, đối với hạ tầng thành phố bọt biển và hấp thụ nước mưa, một quyết định vững vàng hoạt động đủ tốt trong nhiều tương lai khả dĩ, ngay cả khi không dự báo nào xác định chính xác tương lai nào sẽ xảy ra.

  9. For work involving sustainability planning, for sponge city infrastructure and rainwater absorption, the case against intervention weakens when it assumes current practice is risk-free, since maintaining the status quo can also produce harm.

    Đối với công việc liên quan đến quy hoạch bền vững, đối với hạ tầng thành phố bọt biển và hấp thụ nước mưa, lập luận chống can thiệp yếu đi khi giả định thực hành hiện tại không có rủi ro, vì duy trì nguyên trạng cũng có thể gây tổn hại.

  10. For planners, even when conditions are favourable, continued support should depend on whether accessibility, emissions, resilience, and quality of public space improve without unacceptable increases in displacement, maintenance burdens, and benefits concentrated in affluent areas.

    Đối với nhà quy hoạch, ngay cả khi điều kiện thuận lợi, việc tiếp tục hỗ trợ nên phụ thuộc vào việc khả năng tiếp cận, phát thải, sức chống chịu và chất lượng không gian công cộng có cải thiện mà không làm dịch chuyển dân cư, gánh nặng bảo trì và lợi ích tập trung ở khu vực giàu có tăng đến mức không chấp nhận được hay không.

  11. Across neighbourhoods, urban planners, transport agencies, utilities, and residents should prioritise measures that advance healthier, lower-carbon, and more accessible neighbourhoods without obscuring risks such as displacement, maintenance burdens, and benefits concentrated in affluent areas.

    Trong các khu dân cư, nhà quy hoạch đô thị, cơ quan giao thông, đơn vị tiện ích và cư dân nên ưu tiên các biện pháp thúc đẩy các khu dân cư lành mạnh hơn, ít carbon hơn và dễ tiếp cận hơn mà không che khuất các rủi ro như dịch chuyển dân cư, gánh nặng bảo trì và lợi ích tập trung ở khu vực giàu có.

  12. A reasonable conclusion is neither unconditional endorsement nor complete rejection, but a proportionate response to travel patterns, environmental measurements, land-use data, and resident feedback and displacement, maintenance burdens, and benefits concentrated in affluent areas.

    Một kết luận hợp lý không phải ủng hộ vô điều kiện hay bác bỏ hoàn toàn, mà là phản ứng tương xứng với mô hình đi lại, số đo môi trường, dữ liệu sử dụng đất và phản hồi của cư dân và dịch chuyển dân cư, gánh nặng bảo trì và lợi ích tập trung ở khu vực giàu có.