Valuing Non-Market Ecosystem Services · C2 · Luyện viết tiếng Anh

Valuing Non-Market Ecosystem Services · C2 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trật tự từ

12 câu luyện viết · Ecological Economics

  1. Current evidence can support a reading of the valuation of non-market ecosystem services centred on methods that infer welfare effects without an ordinary market price, provided the interpretation remains revisable.

    Có thể diễn giải hợp lý việc định giá các dịch vụ hệ sinh thái không có thị trường thông qua các phương pháp suy ra tác động phúc lợi khi không có giá thị trường thông thường, nhưng cách diễn giải đó vẫn mang tính tạm thời và không phải lời giải thích duy nhất theo bằng chứng hiện có.

  2. Stated-preference surveys, revealed behaviour, ecological indicators, and avoided-cost estimates can inform a judgement about the valuation of non-market ecosystem services, but new contrary evidence should still be capable of changing the conclusion.

    Việc dùng khảo sát sở thích được nêu, hành vi bộc lộ, chỉ báo sinh thái và ước tính chi phí tránh được để đánh giá việc định giá các dịch vụ hệ sinh thái không có thị trường có giá trị thông tin, nhưng không tự nó quyết định kết luận và cần được cân nhắc thận trọng.

  3. Linking methods that infer welfare effects without an ordinary market price with greater visibility for environmental benefits in policy appraisal is plausible subject to corroboration, but still tentative.

    Có thể xem các phương pháp suy ra tác động phúc lợi khi không có giá thị trường thông thường là có liên quan đến khả năng làm rõ hơn lợi ích môi trường trong thẩm định chính sách, nhưng mối quan hệ đó vẫn chỉ mang tính tạm thời cho đến khi có thêm hỗ trợ độc lập.

  4. Because non-substitutability, ethical pluralism, and large valuation uncertainty matters, conclusions about the valuation of non-market ecosystem services require qualification with due caution.

    Việc tính đến tính không thể thay thế, đa nguyên đạo đức và bất định định giá lớn khiến các khẳng định về việc định giá các dịch vụ hệ sinh thái không có thị trường cần được giới hạn, nhưng không làm chúng vô hiệu; những kết luận mạnh hơn vẫn cần thêm bằng chứng.

  5. If an account centres on methods that infer welfare effects without an ordinary market price, it still needs to accommodate the risk that monetary figures obscure cultural, intrinsic, or irreversible values; that constraint narrows its reasonable explanatory reach.

    Xem xét nguy cơ các con số tiền tệ che khuất giá trị văn hoá, nội tại hoặc không thể đảo ngược bên cạnh các phương pháp suy ra tác động phúc lợi khi không có giá thị trường thông thường giúp tránh một cách giải thích phiến diện; cả hai yếu tố nên được giữ trong phạm vi phù hợp thay vì để một phía chi phối.

  6. If non-substitutability, ethical pluralism, and large valuation uncertainty disappeared, greater visibility for environmental benefits in policy appraisal could look more robust in that scenario; uncertainty remains.

    Nếu giả định tính không thể thay thế, đa nguyên đạo đức và bất định định giá lớn không còn, khả năng làm rõ hơn lợi ích môi trường trong thẩm định chính sách có thể có vẻ chắc chắn hơn; phản thực đó hữu ích cho phân tích nhưng không chứng minh kết luận.

  7. Tension between stated-preference surveys, revealed behaviour, ecological indicators, and avoided-cost estimates and methods that infer welfare effects without an ordinary market price warrants re-examination given present findings, rather than automatic defence.

    Nếu khảo sát sở thích được nêu, hành vi bộc lộ, chỉ báo sinh thái và ước tính chi phí tránh được mâu thuẫn với các phương pháp suy ra tác động phúc lợi khi không có giá thị trường thông thường, cách giải thích nền tảng nên được sửa lại theo bằng chứng hiện có thay vì được bảo vệ bằng lập luận tu từ.

  8. The valuation of non-market ecosystem services should be tested against the risk that monetary figures obscure cultural, intrinsic, or irreversible values without overstatement before receiving substantial weight.

    Trước khi tăng mức độ tin cậy vào kết luận về việc định giá các dịch vụ hệ sinh thái không có thị trường, phân tích cần kiểm tra nó trước nguy cơ các con số tiền tệ che khuất giá trị văn hoá, nội tại hoặc không thể đảo ngược; nếu chưa làm được điều đó, sự tự tin nên được giới hạn.

  9. Using stated-preference surveys, revealed behaviour, ecological indicators, and avoided-cost estimates to test methods that infer welfare effects without an ordinary market price should, within stated limits, permit contrary evidence.

    Việc dùng khảo sát sở thích được nêu, hành vi bộc lộ, chỉ báo sinh thái và ước tính chi phí tránh được để kiểm tra các phương pháp suy ra tác động phúc lợi khi không có giá thị trường thông thường phải cho phép xuất hiện bằng chứng trái chiều; nếu không, thiên lệch xác nhận trở thành một khả năng đáng kể.

  10. Placing methods that infer welfare effects without an ordinary market price beside the risk that monetary figures obscure cultural, intrinsic, or irreversible values makes relevant trade-offs, on current evidence, easier to see.

    Xem xét các phương pháp suy ra tác động phúc lợi khi không có giá thị trường thông thường cùng với nguy cơ các con số tiền tệ che khuất giá trị văn hoá, nội tại hoặc không thể đảo ngược giúp làm rõ vai trò khác nhau của chúng và tạo ra một cách diễn giải phân biệt hơn theo bằng chứng hiện có.

  11. Differences in non-substitutability, ethical pluralism, and large valuation uncertainty between settings require conclusions about the valuation of non-market ecosystem services to be framed more narrowly.

    Vì tính không thể thay thế, đa nguyên đạo đức và bất định định giá lớn có thể thay đổi theo bối cảnh, các khẳng định về việc định giá các dịch vụ hệ sinh thái không có thị trường cần nêu rõ ranh giới áp dụng thay vì được khái quát quá mức.

  12. A final assessment can accept greater visibility for environmental benefits in policy appraisal, provided it also states how the risk that monetary figures obscure cultural, intrinsic, or irreversible values constrains the conclusion.

    Một kết luận cân bằng có thể ghi nhận khả năng làm rõ hơn lợi ích môi trường trong thẩm định chính sách đồng thời vẫn giữ nguy cơ các con số tiền tệ che khuất giá trị văn hoá, nội tại hoặc không thể đảo ngược như một ràng buộc thực sự, tránh tạo cảm giác chắc chắn quá mức.