The Degrowth Paradigm and Social Prosperity · C2 · Luyện viết tiếng Anh
The Degrowth Paradigm and Social Prosperity · C2 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, trật
12 câu luyện viết · Ecological Economics
Using planned reductions in resource throughput combined with redistribution and public provision provides a credible lens for interpreting the degrowth paradigm and social prosperity, although alternative readings remain possible.
Có thể diễn giải hợp lý mô hình degrowth và thịnh vượng xã hội thông qua giảm có kế hoạch dòng tài nguyên kết hợp với phân phối lại và cung ứng công, nhưng cách diễn giải đó vẫn mang tính tạm thời và không phải lời giải thích duy nhất theo bằng chứng hiện có.
Using distributional modelling, wellbeing indicators, and policy scenarios to assess the degrowth paradigm and social prosperity can sharpen the assessment, although it cannot independently establish the conclusion.
Việc dùng mô hình phân phối, chỉ báo phúc lợi và kịch bản chính sách để đánh giá mô hình degrowth và thịnh vượng xã hội có giá trị thông tin, nhưng không tự nó quyết định kết luận và cần được cân nhắc thận trọng.
A relation between planned reductions in resource throughput combined with redistribution and public provision and the possibility of sustaining wellbeing with lower material pressure in affluent economies can be entertained subject to corroboration, without being presumed.
Có thể xem giảm có kế hoạch dòng tài nguyên kết hợp với phân phối lại và cung ứng công là có liên quan đến khả năng duy trì phúc lợi với áp lực vật chất thấp hơn ở các nền kinh tế giàu, nhưng mối quan hệ đó vẫn chỉ mang tính tạm thời cho đến khi có thêm hỗ trợ độc lập.
In the degrowth paradigm and social prosperity, the limitation represented by political feasibility and uncertainty about macroeconomic transition dynamics should constrain confidence with due caution.
Việc tính đến tính khả thi chính trị và bất định về động lực chuyển đổi kinh tế vĩ mô khiến các khẳng định về mô hình degrowth và thịnh vượng xã hội cần được giới hạn, nhưng không làm chúng vô hiệu; những kết luận mạnh hơn vẫn cần thêm bằng chứng.
Setting planned reductions in resource throughput combined with redistribution and public provision beside the important distinction between deliberate degrowth and an unmanaged recession exposes, within proper scope, limits of single-factor reasoning.
Xem xét sự phân biệt quan trọng giữa degrowth có chủ đích và suy thoái không được quản lý bên cạnh giảm có kế hoạch dòng tài nguyên kết hợp với phân phối lại và cung ứng công giúp tránh một cách giải thích phiến diện; cả hai yếu tố nên được giữ trong phạm vi phù hợp thay vì để một phía chi phối.
Imagining political feasibility and uncertainty about macroeconomic transition dynamics resolved makes the possibility of sustaining wellbeing with lower material pressure in affluent economies easier to defend in that scenario, not conclusive.
Nếu giả định tính khả thi chính trị và bất định về động lực chuyển đổi kinh tế vĩ mô không còn, khả năng duy trì phúc lợi với áp lực vật chất thấp hơn ở các nền kinh tế giàu có thể có vẻ chắc chắn hơn; phản thực đó hữu ích cho phân tích nhưng không chứng minh kết luận.
If evidence derived from distributional modelling, wellbeing indicators, and policy scenarios conflicts with planned reductions in resource throughput combined with redistribution and public provision, the explanation should change instead of being retrofitted to the contrary findings.
Nếu mô hình phân phối, chỉ báo phúc lợi và kịch bản chính sách mâu thuẫn với giảm có kế hoạch dòng tài nguyên kết hợp với phân phối lại và cung ứng công, cách giải thích nền tảng nên được sửa lại theo bằng chứng hiện có thay vì được bảo vệ bằng lập luận tu từ.
Testing the degrowth paradigm and social prosperity against the important distinction between deliberate degrowth and an unmanaged recession is necessary without premature certainty before confidence increases.
Trước khi tăng mức độ tin cậy vào kết luận về mô hình degrowth và thịnh vượng xã hội, phân tích cần kiểm tra nó trước sự phân biệt quan trọng giữa degrowth có chủ đích và suy thoái không được quản lý; nếu chưa làm được điều đó, sự tự tin nên được giới hạn.
If distributional modelling, wellbeing indicators, and policy scenarios cannot challenge planned reductions in resource throughput combined with redistribution and public provision, confirmation bias, within stated limits, becomes plausible.
Việc dùng mô hình phân phối, chỉ báo phúc lợi và kịch bản chính sách để kiểm tra giảm có kế hoạch dòng tài nguyên kết hợp với phân phối lại và cung ứng công phải cho phép xuất hiện bằng chứng trái chiều; nếu không, thiên lệch xác nhận trở thành một khả năng đáng kể.
Considering planned reductions in resource throughput combined with redistribution and public provision and the important distinction between deliberate degrowth and an unmanaged recession together can reveal separate contributions without collapsing them into one role.
Xem xét giảm có kế hoạch dòng tài nguyên kết hợp với phân phối lại và cung ứng công cùng với sự phân biệt quan trọng giữa degrowth có chủ đích và suy thoái không được quản lý giúp làm rõ vai trò khác nhau của chúng và tạo ra một cách diễn giải phân biệt hơn theo bằng chứng hiện có.
Material variation in political feasibility and uncertainty about macroeconomic transition dynamics means that conclusions about the degrowth paradigm and social prosperity should not be extended beyond the contexts for which its scope conditions are justified.
Vì tính khả thi chính trị và bất định về động lực chuyển đổi kinh tế vĩ mô có thể thay đổi theo bối cảnh, các khẳng định về mô hình degrowth và thịnh vượng xã hội cần nêu rõ ranh giới áp dụng thay vì được khái quát quá mức.
Support for the possibility of sustaining wellbeing with lower material pressure in affluent economies can coexist with the important distinction between deliberate degrowth and an unmanaged recession with due caution.
Một kết luận cân bằng có thể ghi nhận khả năng duy trì phúc lợi với áp lực vật chất thấp hơn ở các nền kinh tế giàu đồng thời vẫn giữ sự phân biệt quan trọng giữa degrowth có chủ đích và suy thoái không được quản lý như một ràng buộc thực sự, tránh tạo cảm giác chắc chắn quá mức.