Steady-State Economics and Capital Maintenance · C2 · Luyện viết tiếng Anh

Steady-State Economics and Capital Maintenance · C2 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, t

12 câu luyện viết · Ecological Economics

  1. Current evidence supports interpreting steady-state economics and capital maintenance partly through stable physical stocks supported by ecologically bounded throughput, although other mechanisms are likely to remain necessary for a complete account.

    Có thể diễn giải hợp lý kinh tế trạng thái ổn định và duy trì vốn thông qua các kho vật chất ổn định được duy trì bằng dòng tài nguyên nằm trong giới hạn sinh thái, nhưng cách diễn giải đó vẫn mang tính tạm thời và không phải lời giải thích duy nhất theo bằng chứng hiện có.

  2. In assessing steady-state economics and capital maintenance, evidence from stock-flow accounting, depreciation measures, and resource-use indicators is useful, but stronger corroboration is required for a decisive conclusion.

    Việc dùng hạch toán kho-dòng, thước đo khấu hao và chỉ báo sử dụng tài nguyên để đánh giá kinh tế trạng thái ổn định và duy trì vốn có giá trị thông tin, nhưng không tự nó quyết định kết luận và cần được cân nhắc thận trọng.

  3. The evidence permits a cautious link between stable physical stocks supported by ecologically bounded throughput and maintenance of productive capacity without relying on perpetual physical expansion, although independent confirmation is still needed before the relationship is treated as robust.

    Có thể xem các kho vật chất ổn định được duy trì bằng dòng tài nguyên nằm trong giới hạn sinh thái là có liên quan đến duy trì năng lực sản xuất mà không dựa vào mở rộng vật chất vĩnh viễn, nhưng mối quan hệ đó vẫn chỉ mang tính tạm thời cho đến khi có thêm hỗ trợ độc lập.

  4. Claims about steady-state economics and capital maintenance become more qualified once uncertainty about innovation, population, and institutional adaptation is considered, while the underlying argument remains open to stronger evidential support.

    Việc tính đến bất định về đổi mới, dân số và khả năng thích ứng thể chế khiến các khẳng định về kinh tế trạng thái ổn định và duy trì vốn cần được giới hạn, nhưng không làm chúng vô hiệu; những kết luận mạnh hơn vẫn cần thêm bằng chứng.

  5. Joint consideration of distributional rules and governance institutions that determine who benefits and stable physical stocks supported by ecologically bounded throughput reduces one-sided interpretation and keeps the weight of each proportionate to the evidence.

    Xem xét các quy tắc phân phối và thể chế quản trị quyết định ai được hưởng lợi bên cạnh các kho vật chất ổn định được duy trì bằng dòng tài nguyên nằm trong giới hạn sinh thái giúp tránh một cách giải thích phiến diện; cả hai yếu tố nên được giữ trong phạm vi phù hợp thay vì để một phía chi phối.

  6. Without uncertainty about innovation, population, and institutional adaptation, maintenance of productive capacity without relying on perpetual physical expansion may appear more credible in that scenario; inference stays conditional.

    Nếu giả định bất định về đổi mới, dân số và khả năng thích ứng thể chế không còn, duy trì năng lực sản xuất mà không dựa vào mở rộng vật chất vĩnh viễn có thể có vẻ chắc chắn hơn; phản thực đó hữu ích cho phân tích nhưng không chứng minh kết luận.

  7. Where findings from stock-flow accounting, depreciation measures, and resource-use indicators are inconsistent with stable physical stocks supported by ecologically bounded throughput, the account requires revision rather than defensive reinterpretation.

    Nếu hạch toán kho-dòng, thước đo khấu hao và chỉ báo sử dụng tài nguyên mâu thuẫn với các kho vật chất ổn định được duy trì bằng dòng tài nguyên nằm trong giới hạn sinh thái, cách giải thích nền tảng nên được sửa lại theo bằng chứng hiện có thay vì được bảo vệ bằng lập luận tu từ.

  8. Without accommodating distributional rules and governance institutions that determine who benefits, a strong conclusion about steady-state economics and capital maintenance would extend beyond its justified explanatory scope.

    Trước khi tăng mức độ tin cậy vào kết luận về kinh tế trạng thái ổn định và duy trì vốn, phân tích cần kiểm tra nó trước các quy tắc phân phối và thể chế quản trị quyết định ai được hưởng lợi; nếu chưa làm được điều đó, sự tự tin nên được giới hạn.

  9. Credible analysis using stock-flow accounting, depreciation measures, and resource-use indicators requires that adverse findings can count against stable physical stocks supported by ecologically bounded throughput, instead of privileging supportive findings over legitimate contrary results.

    Việc dùng hạch toán kho-dòng, thước đo khấu hao và chỉ báo sử dụng tài nguyên để kiểm tra các kho vật chất ổn định được duy trì bằng dòng tài nguyên nằm trong giới hạn sinh thái phải cho phép xuất hiện bằng chứng trái chiều; nếu không, thiên lệch xác nhận trở thành một khả năng đáng kể.

  10. Joint consideration of stable physical stocks supported by ecologically bounded throughput and distributional rules and governance institutions that determine who benefits can refine the account while preserving the distinction between what each explains.

    Xem xét các kho vật chất ổn định được duy trì bằng dòng tài nguyên nằm trong giới hạn sinh thái cùng với các quy tắc phân phối và thể chế quản trị quyết định ai được hưởng lợi giúp làm rõ vai trò khác nhau của chúng và tạo ra một cách diễn giải phân biệt hơn theo bằng chứng hiện có.

  11. Because uncertainty about innovation, population, and institutional adaptation can vary across contexts, claims about steady-state economics and capital maintenance need clear limits and should not be generalised beyond the stated conditions.

    Vì bất định về đổi mới, dân số và khả năng thích ứng thể chế có thể thay đổi theo bối cảnh, các khẳng định về kinh tế trạng thái ổn định và duy trì vốn cần nêu rõ ranh giới áp dụng thay vì được khái quát quá mức.

  12. Any concluding judgement, with due caution, can acknowledge maintenance of productive capacity without relying on perpetual physical expansion without dismissing distributional rules and governance institutions that determine who benefits.

    Một kết luận cân bằng có thể ghi nhận duy trì năng lực sản xuất mà không dựa vào mở rộng vật chất vĩnh viễn đồng thời vẫn giữ các quy tắc phân phối và thể chế quản trị quyết định ai được hưởng lợi như một ràng buộc thực sự, tránh tạo cảm giác chắc chắn quá mức.