Pigouvian Taxes and Ecological Cost Internalisation · C2 · Luyện viết tiếng Anh

Pigouvian Taxes and Ecological Cost Internalisation · C2 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vự

12 câu luyện viết · Ecological Economics

  1. Within Pigouvian taxation of ecological externalities, an account centred on prices that incorporate estimated marginal social damage is persuasive only if the analysis does not foreclose competing interpretations.

    Có thể diễn giải hợp lý thuế Pigouvian đối với ngoại tác sinh thái thông qua mức giá phản ánh thiệt hại xã hội biên được ước tính, nhưng cách diễn giải đó vẫn mang tính tạm thời và không phải lời giải thích duy nhất theo bằng chứng hiện có.

  2. For Pigouvian taxation of ecological externalities, evidence concerning emissions data, damage functions, behavioural responses, and distributional analysis can refine the analysis while leaving substantive disagreement open.

    Việc dùng dữ liệu phát thải, hàm thiệt hại, phản ứng hành vi và phân tích phân phối để đánh giá thuế Pigouvian đối với ngoại tác sinh thái có giá trị thông tin, nhưng không tự nó quyết định kết luận và cần được cân nhắc thận trọng.

  3. Prices that incorporate estimated marginal social damage and an incentive to reduce environmentally costly activity without prescribing one technology may be analysed together, although their relationship should not be treated as independently sufficient.

    Có thể xem mức giá phản ánh thiệt hại xã hội biên được ước tính là có liên quan đến một động lực giảm hoạt động gây chi phí môi trường mà không áp đặt một công nghệ duy nhất, nhưng mối quan hệ đó vẫn chỉ mang tính tạm thời cho đến khi có thêm hỗ trợ độc lập.

  4. Claims about Pigouvian taxation of ecological externalities become more limited once uncertain marginal damages and unequal exposure to both pollution and taxation is considered, while the broader argument may still survive.

    Việc tính đến thiệt hại biên không chắc chắn và mức phơi nhiễm không đồng đều trước ô nhiễm lẫn thuế khiến các khẳng định về thuế Pigouvian đối với ngoại tác sinh thái cần được giới hạn, nhưng không làm chúng vô hiệu; những kết luận mạnh hơn vẫn cần thêm bằng chứng.

  5. Analysis that includes complementary regulation and revenue recycling where pricing alone is insufficient or regressive is less likely to let prices that incorporate estimated marginal social damage crowd out a meaningful competing account.

    Xem xét quy định bổ trợ và tái phân bổ nguồn thu khi chỉ định giá là không đủ hoặc mang tính luỹ thoái bên cạnh mức giá phản ánh thiệt hại xã hội biên được ước tính giúp tránh một cách giải thích phiến diện; cả hai yếu tố nên được giữ trong phạm vi phù hợp thay vì để một phía chi phối.

  6. Under a counterfactual without uncertain marginal damages and unequal exposure to both pollution and taxation, an incentive to reduce environmentally costly activity without prescribing one technology may seem stronger, although the exercise reveals assumptions rather than establishing truth.

    Nếu giả định thiệt hại biên không chắc chắn và mức phơi nhiễm không đồng đều trước ô nhiễm lẫn thuế không còn, một động lực giảm hoạt động gây chi phí môi trường mà không áp đặt một công nghệ duy nhất có thể có vẻ chắc chắn hơn; phản thực đó hữu ích cho phân tích nhưng không chứng minh kết luận.

  7. If findings from emissions data, damage functions, behavioural responses, and distributional analysis are inconsistent with prices that incorporate estimated marginal social damage, a responsible analysis should revise the account instead of insulating it from contrary evidence.

    Nếu dữ liệu phát thải, hàm thiệt hại, phản ứng hành vi và phân tích phân phối mâu thuẫn với mức giá phản ánh thiệt hại xã hội biên được ước tính, cách giải thích nền tảng nên được sửa lại theo bằng chứng hiện có thay vì được bảo vệ bằng lập luận tu từ.

  8. After addressing complementary regulation and revenue recycling where pricing alone is insufficient or regressive, confidence in Pigouvian taxation of ecological externalities may rise without premature certainty.

    Trước khi tăng mức độ tin cậy vào kết luận về thuế Pigouvian đối với ngoại tác sinh thái, phân tích cần kiểm tra nó trước quy định bổ trợ và tái phân bổ nguồn thu khi chỉ định giá là không đủ hoặc mang tính luỹ thoái; nếu chưa làm được điều đó, sự tự tin nên được giới hạn.

  9. Findings from emissions data, damage functions, behavioural responses, and distributional analysis should be permitted to count against prices that incorporate estimated marginal social damage; otherwise, the analysis risks confirmation bias.

    Việc dùng dữ liệu phát thải, hàm thiệt hại, phản ứng hành vi và phân tích phân phối để kiểm tra mức giá phản ánh thiệt hại xã hội biên được ước tính phải cho phép xuất hiện bằng chứng trái chiều; nếu không, thiên lệch xác nhận trở thành một khả năng đáng kể.

  10. Placing prices that incorporate estimated marginal social damage beside complementary regulation and revenue recycling where pricing alone is insufficient or regressive makes their different roles clearer and preserves the distinction between competing considerations.

    Xem xét mức giá phản ánh thiệt hại xã hội biên được ước tính cùng với quy định bổ trợ và tái phân bổ nguồn thu khi chỉ định giá là không đủ hoặc mang tính luỹ thoái giúp làm rõ vai trò khác nhau của chúng và tạo ra một cách diễn giải phân biệt hơn theo bằng chứng hiện có.

  11. Claims about Pigouvian taxation of ecological externalities should reflect contextual variation in uncertain marginal damages and unequal exposure to both pollution and taxation, with their scope made explicit and make clear where the conclusion may no longer hold.

    Vì thiệt hại biên không chắc chắn và mức phơi nhiễm không đồng đều trước ô nhiễm lẫn thuế có thể thay đổi theo bối cảnh, các khẳng định về thuế Pigouvian đối với ngoại tác sinh thái cần nêu rõ ranh giới áp dụng thay vì được khái quát quá mức.

  12. A mature synthesis, without overstatement, can give weight to an incentive to reduce environmentally costly activity without prescribing one technology and still preserve complementary regulation and revenue recycling where pricing alone is insufficient or regressive.

    Một kết luận cân bằng có thể ghi nhận một động lực giảm hoạt động gây chi phí môi trường mà không áp đặt một công nghệ duy nhất đồng thời vẫn giữ quy định bổ trợ và tái phân bổ nguồn thu khi chỉ định giá là không đủ hoặc mang tính luỹ thoái như một ràng buộc thực sự, tránh tạo cảm giác chắc chắn quá mức.