Planetary Boundaries and Safe Operating Spaces · C2 · Luyện viết tiếng Anh
Planetary Boundaries and Safe Operating Spaces · C2 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, t
12 câu luyện viết · Ecological Economics
Emphasising Earth-system processes whose disruption may raise the risk of large-scale environmental change offers a defensible reading of planetary boundaries and safe operating spaces, but contrary evidence could still require revision.
Có thể diễn giải hợp lý planetary boundaries và các không gian hoạt động an toàn thông qua các quá trình hệ Earth mà sự xáo trộn có thể làm tăng nguy cơ biến đổi môi trường quy mô lớn, nhưng cách diễn giải đó vẫn mang tính tạm thời và không phải lời giải thích duy nhất theo bằng chứng hiện có.
In judging planetary boundaries and safe operating spaces, global indicators, Earth-system modelling, and evidence about interacting biophysical processes may carry weight without preventing later revision when contrary evidence appears.
Việc dùng chỉ báo toàn cầu, mô hình hệ Earth và bằng chứng về các quá trình sinh-vật lý tương tác để đánh giá planetary boundaries và các không gian hoạt động an toàn có giá trị thông tin, nhưng không tự nó quyết định kết luận và cần được cân nhắc thận trọng.
Linking Earth-system processes whose disruption may raise the risk of large-scale environmental change with a precautionary framework for evaluating systemic ecological pressure is plausible awaiting further confirmation, but still tentative.
Có thể xem các quá trình hệ Earth mà sự xáo trộn có thể làm tăng nguy cơ biến đổi môi trường quy mô lớn là có liên quan đến một khung thận trọng để đánh giá áp lực sinh thái mang tính hệ thống, nhưng mối quan hệ đó vẫn chỉ mang tính tạm thời cho đến khi có thêm hỗ trợ độc lập.
Because uncertain thresholds, regional variation, and interactions among boundaries matters, conclusions about planetary boundaries and safe operating spaces require qualification without overstatement.
Việc tính đến ngưỡng không chắc chắn, khác biệt khu vực và tương tác giữa các ranh giới khiến các khẳng định về planetary boundaries và các không gian hoạt động an toàn cần được giới hạn, nhưng không làm chúng vô hiệu; những kết luận mạnh hơn vẫn cần thêm bằng chứng.
An account centred on Earth-system processes whose disruption may raise the risk of large-scale environmental change should also accommodate the fact that biophysical limits do not by themselves determine a fair distribution of resource use at this level.
Xem xét thực tế rằng giới hạn sinh-vật lý tự nó không quyết định cách phân bổ sử dụng tài nguyên công bằng bên cạnh các quá trình hệ Earth mà sự xáo trộn có thể làm tăng nguy cơ biến đổi môi trường quy mô lớn giúp tránh một cách giải thích phiến diện; cả hai yếu tố nên được giữ trong phạm vi phù hợp thay vì để một phía chi phối.
If uncertain thresholds, regional variation, and interactions among boundaries disappeared, a precautionary framework for evaluating systemic ecological pressure could look more robust within that counterfactual; uncertainty remains.
Nếu giả định ngưỡng không chắc chắn, khác biệt khu vực và tương tác giữa các ranh giới không còn, một khung thận trọng để đánh giá áp lực sinh thái mang tính hệ thống có thể có vẻ chắc chắn hơn; phản thực đó hữu ích cho phân tích nhưng không chứng minh kết luận.
Tension between global indicators, Earth-system modelling, and evidence about interacting biophysical processes and Earth-system processes whose disruption may raise the risk of large-scale environmental change warrants re-examination on current evidence, rather than automatic defence.
Nếu chỉ báo toàn cầu, mô hình hệ Earth và bằng chứng về các quá trình sinh-vật lý tương tác mâu thuẫn với các quá trình hệ Earth mà sự xáo trộn có thể làm tăng nguy cơ biến đổi môi trường quy mô lớn, cách giải thích nền tảng nên được sửa lại theo bằng chứng hiện có thay vì được bảo vệ bằng lập luận tu từ.
Planetary boundaries and safe operating spaces should be tested against the fact that biophysical limits do not by themselves determine a fair distribution of resource use without premature certainty before receiving substantial weight.
Trước khi tăng mức độ tin cậy vào kết luận về planetary boundaries và các không gian hoạt động an toàn, phân tích cần kiểm tra nó trước thực tế rằng giới hạn sinh-vật lý tự nó không quyết định cách phân bổ sử dụng tài nguyên công bằng; nếu chưa làm được điều đó, sự tự tin nên được giới hạn.
Using global indicators, Earth-system modelling, and evidence about interacting biophysical processes to test Earth-system processes whose disruption may raise the risk of large-scale environmental change should, within proper scope, permit contrary evidence.
Việc dùng chỉ báo toàn cầu, mô hình hệ Earth và bằng chứng về các quá trình sinh-vật lý tương tác để kiểm tra các quá trình hệ Earth mà sự xáo trộn có thể làm tăng nguy cơ biến đổi môi trường quy mô lớn phải cho phép xuất hiện bằng chứng trái chiều; nếu không, thiên lệch xác nhận trở thành một khả năng đáng kể.
Placing Earth-system processes whose disruption may raise the risk of large-scale environmental change beside the fact that biophysical limits do not by themselves determine a fair distribution of resource use makes relevant trade-offs, with available data, easier to see.
Xem xét các quá trình hệ Earth mà sự xáo trộn có thể làm tăng nguy cơ biến đổi môi trường quy mô lớn cùng với thực tế rằng giới hạn sinh-vật lý tự nó không quyết định cách phân bổ sử dụng tài nguyên công bằng giúp làm rõ vai trò khác nhau của chúng và tạo ra một cách diễn giải phân biệt hơn theo bằng chứng hiện có.
When uncertain thresholds, regional variation, and interactions among boundaries varies between settings, conclusions about planetary boundaries and safe operating spaces should be stated with a correspondingly narrower scope.
Vì ngưỡng không chắc chắn, khác biệt khu vực và tương tác giữa các ranh giới có thể thay đổi theo bối cảnh, các khẳng định về planetary boundaries và các không gian hoạt động an toàn cần nêu rõ ranh giới áp dụng thay vì được khái quát quá mức.
The final assessment, without overstatement, may accept a precautionary framework for evaluating systemic ecological pressure while remaining candid about the fact that biophysical limits do not by themselves determine a fair distribution of resource use.
Một kết luận cân bằng có thể ghi nhận một khung thận trọng để đánh giá áp lực sinh thái mang tính hệ thống đồng thời vẫn giữ thực tế rằng giới hạn sinh-vật lý tự nó không quyết định cách phân bổ sử dụng tài nguyên công bằng như một ràng buộc thực sự, tránh tạo cảm giác chắc chắn quá mức.