Optogenetic Investigation of Amygdala Fear Circuits · C2 · Luyện viết tiếng Anh

Optogenetic Investigation of Amygdala Fear Circuits · C2 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vự

12 câu luyện viết · Neuroscience and Behaviour

  1. Current evidence supports interpreting optogenetic investigation of amygdala fear circuits partly through light-sensitive opsins used to alter activity in selected neural populations, without assuming that the mechanism exhausts the relevant explanation.

    Có thể diễn giải hợp lý nghiên cứu optogenetic các mạch sợ hãi ở amygdala thông qua opsin nhạy sáng được dùng để thay đổi hoạt động của các quần thể neuron được chọn, nhưng cách diễn giải đó vẫn mang tính tạm thời và không phải lời giải thích duy nhất theo bằng chứng hiện có.

  2. For optogenetic investigation of amygdala fear circuits, evidence from cell-type targeting, neural recording, stimulation or inhibition, and behavioural assays is informative, although corroboration is still required for a decisive judgement.

    Việc dùng nhắm đích loại tế bào, ghi hoạt động thần kinh, kích thích hoặc ức chế và thử nghiệm hành vi để đánh giá nghiên cứu optogenetic các mạch sợ hãi ở amygdala có giá trị thông tin, nhưng không tự nó quyết định kết luận và cần được cân nhắc thận trọng.

  3. The evidence permits a cautious link between light-sensitive opsins used to alter activity in selected neural populations and stronger causal tests of how particular circuits contribute to defensive behaviour, while the proposed relationship still requires independent confirmation.

    Có thể xem opsin nhạy sáng được dùng để thay đổi hoạt động của các quần thể neuron được chọn là có liên quan đến kiểm định nhân quả mạnh hơn về cách các mạch cụ thể đóng góp vào hành vi phòng vệ, nhưng mối quan hệ đó vẫn chỉ mang tính tạm thời cho đến khi có thêm hỗ trợ độc lập.

  4. Accounting for species differences, viral targeting limits, and task-dependent definitions of fear narrows defensible claims about optogenetic investigation of amygdala fear circuits without invalidating them; stronger conclusions need additional evidence.

    Việc tính đến khác biệt loài, giới hạn nhắm đích bằng virus và định nghĩa nỗi sợ phụ thuộc nhiệm vụ khiến các khẳng định về nghiên cứu optogenetic các mạch sợ hãi ở amygdala cần được giới hạn, nhưng không làm chúng vô hiệu; những kết luận mạnh hơn vẫn cần thêm bằng chứng.

  5. A less one-sided account emerges when the distributed nature of fear-related processing beyond any single amygdala pathway is considered together with light-sensitive opsins used to alter activity in selected neural populations, with neither allowed to dominate beyond the evidence.

    Xem xét tính phân tán của xử lý liên quan nỗi sợ vượt ra ngoài bất kỳ một đường dẫn amygdala nào bên cạnh opsin nhạy sáng được dùng để thay đổi hoạt động của các quần thể neuron được chọn giúp tránh một cách giải thích phiến diện; cả hai yếu tố nên được giữ trong phạm vi phù hợp thay vì để một phía chi phối.

  6. Without species differences, viral targeting limits, and task-dependent definitions of fear, stronger causal tests of how particular circuits contribute to defensive behaviour may appear more credible within that counterfactual; inference stays conditional.

    Nếu giả định khác biệt loài, giới hạn nhắm đích bằng virus và định nghĩa nỗi sợ phụ thuộc nhiệm vụ không còn, kiểm định nhân quả mạnh hơn về cách các mạch cụ thể đóng góp vào hành vi phòng vệ có thể có vẻ chắc chắn hơn; phản thực đó hữu ích cho phân tích nhưng không chứng minh kết luận.

  7. Where findings from cell-type targeting, neural recording, stimulation or inhibition, and behavioural assays are inconsistent with light-sensitive opsins used to alter activity in selected neural populations, the account requires revision rather than defensive reinterpretation.

    Nếu nhắm đích loại tế bào, ghi hoạt động thần kinh, kích thích hoặc ức chế và thử nghiệm hành vi mâu thuẫn với opsin nhạy sáng được dùng để thay đổi hoạt động của các quần thể neuron được chọn, cách giải thích nền tảng nên được sửa lại theo bằng chứng hiện có thay vì được bảo vệ bằng lập luận tu từ.

  8. Any strong conclusion about optogenetic investigation of amygdala fear circuits must accommodate the distributed nature of fear-related processing beyond any single amygdala pathway; otherwise, the explanation would claim more than the evidence supports.

    Trước khi tăng mức độ tin cậy vào kết luận về nghiên cứu optogenetic các mạch sợ hãi ở amygdala, phân tích cần kiểm tra nó trước tính phân tán của xử lý liên quan nỗi sợ vượt ra ngoài bất kỳ một đường dẫn amygdala nào; nếu chưa làm được điều đó, sự tự tin nên được giới hạn.

  9. A credible use of cell-type targeting, neural recording, stimulation or inhibition, and behavioural assays must allow adverse results to count against light-sensitive opsins used to alter activity in selected neural populations, instead of treating confirmation as the only acceptable result.

    Việc dùng nhắm đích loại tế bào, ghi hoạt động thần kinh, kích thích hoặc ức chế và thử nghiệm hành vi để kiểm tra opsin nhạy sáng được dùng để thay đổi hoạt động của các quần thể neuron được chọn phải cho phép xuất hiện bằng chứng trái chiều; nếu không, thiên lệch xác nhận trở thành một khả năng đáng kể.

  10. Joint consideration of light-sensitive opsins used to alter activity in selected neural populations and the distributed nature of fear-related processing beyond any single amygdala pathway can refine the account while preserving the distinction between what each explains.

    Xem xét opsin nhạy sáng được dùng để thay đổi hoạt động của các quần thể neuron được chọn cùng với tính phân tán của xử lý liên quan nỗi sợ vượt ra ngoài bất kỳ một đường dẫn amygdala nào giúp làm rõ vai trò khác nhau của chúng và tạo ra một cách diễn giải phân biệt hơn theo bằng chứng hiện có.

  11. Variation in species differences, viral targeting limits, and task-dependent definitions of fear across contexts means that claims about optogenetic investigation of amygdala fear circuits need clearly stated limits instead of being extended beyond the relevant context.

    Vì khác biệt loài, giới hạn nhắm đích bằng virus và định nghĩa nỗi sợ phụ thuộc nhiệm vụ có thể thay đổi theo bối cảnh, các khẳng định về nghiên cứu optogenetic các mạch sợ hãi ở amygdala cần nêu rõ ranh giới áp dụng thay vì được khái quát quá mức.

  12. Any concluding judgement, without overstatement, can acknowledge stronger causal tests of how particular circuits contribute to defensive behaviour without dismissing the distributed nature of fear-related processing beyond any single amygdala pathway.

    Một kết luận cân bằng có thể ghi nhận kiểm định nhân quả mạnh hơn về cách các mạch cụ thể đóng góp vào hành vi phòng vệ đồng thời vẫn giữ tính phân tán của xử lý liên quan nỗi sợ vượt ra ngoài bất kỳ một đường dẫn amygdala nào như một ràng buộc thực sự, tránh tạo cảm giác chắc chắn quá mức.