Oxytocin and the Biology of Social Attachment · C2 · Luyện viết tiếng Anh
Oxytocin and the Biology of Social Attachment · C2 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vựng, tr
12 câu luyện viết · Neuroscience and Behaviour
Interpreting oxytocin and the biology of social attachment through context-dependent modulation of neural and behavioural responses to social cues remains defensible given the evidence available, while still open to revision.
Có thể diễn giải hợp lý oxytocin và sinh học của gắn bó xã hội thông qua điều biến phụ thuộc bối cảnh của đáp ứng thần kinh và hành vi trước tín hiệu xã hội, nhưng cách diễn giải đó vẫn mang tính tạm thời và không phải lời giải thích duy nhất theo bằng chứng hiện có.
Assessment of oxytocin and the biology of social attachment can reasonably draw on animal models, receptor studies, controlled human experiments, and behavioural measurement, if the constraints on that evidence are not obscured.
Việc dùng mô hình động vật, nghiên cứu receptor, thí nghiệm có kiểm soát ở người và đo hành vi để đánh giá oxytocin và sinh học của gắn bó xã hội có giá trị thông tin, nhưng không tự nó quyết định kết luận và cần được cân nhắc thận trọng.
Context-dependent modulation of neural and behavioural responses to social cues may contribute to more precise hypotheses about social salience, bonding, and affiliative behaviour, while the claim remains open to revision pending better independent evidence.
Có thể xem điều biến phụ thuộc bối cảnh của đáp ứng thần kinh và hành vi trước tín hiệu xã hội là có liên quan đến các giả thuyết chính xác hơn về độ nổi bật xã hội, gắn bó và hành vi liên kết, nhưng mối quan hệ đó vẫn chỉ mang tính tạm thời cho đến khi có thêm hỗ trợ độc lập.
Where small and heterogeneous human effects, route-of-administration questions, and strong contextual moderation applies, an account of oxytocin and the biology of social attachment should remain qualified without premature certainty.
Việc tính đến hiệu ứng nhỏ và không đồng nhất ở người, câu hỏi về đường dùng và sự điều biến mạnh theo bối cảnh khiến các khẳng định về oxytocin và sinh học của gắn bó xã hội cần được giới hạn, nhưng không làm chúng vô hiệu; những kết luận mạnh hơn vẫn cần thêm bằng chứng.
Neither context-dependent modulation of neural and behavioural responses to social cues nor the rejection of a simplistic account in which oxytocin functions as a universal trust hormone should dominate analysis within stated limits; both remain relevant.
Xem xét việc bác bỏ cách giải thích đơn giản rằng oxytocin hoạt động như một hormone tạo lòng tin phổ quát bên cạnh điều biến phụ thuộc bối cảnh của đáp ứng thần kinh và hành vi trước tín hiệu xã hội giúp tránh một cách giải thích phiến diện; cả hai yếu tố nên được giữ trong phạm vi phù hợp thay vì để một phía chi phối.
Removing small and heterogeneous human effects, route-of-administration questions, and strong contextual moderation would make more precise hypotheses about social salience, bonding, and affiliative behaviour look stronger in that scenario, without proving it.
Nếu giả định hiệu ứng nhỏ và không đồng nhất ở người, câu hỏi về đường dùng và sự điều biến mạnh theo bối cảnh không còn, các giả thuyết chính xác hơn về độ nổi bật xã hội, gắn bó và hành vi liên kết có thể có vẻ chắc chắn hơn; phản thực đó hữu ích cho phân tích nhưng không chứng minh kết luận.
A mismatch between animal models, receptor studies, controlled human experiments, and behavioural measurement and context-dependent modulation of neural and behavioural responses to social cues should prompt revision given present findings, not rhetorical rescue.
Nếu mô hình động vật, nghiên cứu receptor, thí nghiệm có kiểm soát ở người và đo hành vi mâu thuẫn với điều biến phụ thuộc bối cảnh của đáp ứng thần kinh và hành vi trước tín hiệu xã hội, cách giải thích nền tảng nên được sửa lại theo bằng chứng hiện có thay vì được bảo vệ bằng lập luận tu từ.
Unless oxytocin and the biology of social attachment can withstand the rejection of a simplistic account in which oxytocin functions as a universal trust hormone, confidence, without overstatement, should remain limited.
Trước khi tăng mức độ tin cậy vào kết luận về oxytocin và sinh học của gắn bó xã hội, phân tích cần kiểm tra nó trước việc bác bỏ cách giải thích đơn giản rằng oxytocin hoạt động như một hormone tạo lòng tin phổ quát; nếu chưa làm được điều đó, sự tự tin nên được giới hạn.
Testing context-dependent modulation of neural and behavioural responses to social cues against animal models, receptor studies, controlled human experiments, and behavioural measurement becomes more persuasive when the test is capable of producing disconfirming evidence.
Việc dùng mô hình động vật, nghiên cứu receptor, thí nghiệm có kiểm soát ở người và đo hành vi để kiểm tra điều biến phụ thuộc bối cảnh của đáp ứng thần kinh và hành vi trước tín hiệu xã hội phải cho phép xuất hiện bằng chứng trái chiều; nếu không, thiên lệch xác nhận trở thành một khả năng đáng kể.
The contrast between context-dependent modulation of neural and behavioural responses to social cues and the rejection of a simplistic account in which oxytocin functions as a universal trust hormone can sharpen interpretation given present findings.
Xem xét điều biến phụ thuộc bối cảnh của đáp ứng thần kinh và hành vi trước tín hiệu xã hội cùng với việc bác bỏ cách giải thích đơn giản rằng oxytocin hoạt động như một hormone tạo lòng tin phổ quát giúp làm rõ vai trò khác nhau của chúng và tạo ra một cách diễn giải phân biệt hơn theo bằng chứng hiện có.
Because small and heterogeneous human effects, route-of-administration questions, and strong contextual moderation can shift with context, which means any account of oxytocin and the biology of social attachment should identify the conditions under which its claims may no longer hold.
Vì hiệu ứng nhỏ và không đồng nhất ở người, câu hỏi về đường dùng và sự điều biến mạnh theo bối cảnh có thể thay đổi theo bối cảnh, các khẳng định về oxytocin và sinh học của gắn bó xã hội cần nêu rõ ranh giới áp dụng thay vì được khái quát quá mức.
Recognising more precise hypotheses about social salience, bonding, and affiliative behaviour remains compatible with a balanced conclusion that gives the rejection of a simplistic account in which oxytocin functions as a universal trust hormone genuine constraining force.
Một kết luận cân bằng có thể ghi nhận các giả thuyết chính xác hơn về độ nổi bật xã hội, gắn bó và hành vi liên kết đồng thời vẫn giữ việc bác bỏ cách giải thích đơn giản rằng oxytocin hoạt động như một hormone tạo lòng tin phổ quát như một ràng buộc thực sự, tránh tạo cảm giác chắc chắn quá mức.