Epigenetic Regulation of Childhood Stress Responses · C2 · Luyện viết tiếng Anh

Epigenetic Regulation of Childhood Stress Responses · C2 · Luyện viết tiếng Anh. Luyện viết tiếng Anh A1–C2 bằng cách dựng lại từng câu từ gợi ý, kiểm tra từ vự

12 câu luyện viết · Neuroscience and Behaviour

  1. For epigenetic regulation of childhood stress responses, giving changes in DNA methylation, chromatin, or gene regulation associated with environmental exposure explanatory weight is reasonable with available data, without granting exclusivity.

    Có thể diễn giải hợp lý điều hoà biểu sinh của đáp ứng stress thời thơ ấu thông qua thay đổi DNA methylation, chromatin hoặc điều hoà gene liên quan phơi nhiễm môi trường, nhưng cách diễn giải đó vẫn mang tính tạm thời và không phải lời giải thích duy nhất theo bằng chứng hiện có.

  2. When evaluating epigenetic regulation of childhood stress responses, attention to longitudinal cohorts, molecular assays, animal models, and repeated measures of adversity is warranted with due caution, yet never decisive.

    Việc dùng cohort dọc, thử nghiệm phân tử, mô hình động vật và đo lặp lại nghịch cảnh để đánh giá điều hoà biểu sinh của đáp ứng stress thời thơ ấu có giá trị thông tin, nhưng không tự nó quyết định kết luận và cần được cân nhắc thận trọng.

  3. The proposed connection between changes in DNA methylation, chromatin, or gene regulation associated with environmental exposure and a possible account of how social experience becomes biologically embedded without being genetically fixed is reasonable pending independent support, though provisional.

    Có thể xem thay đổi DNA methylation, chromatin hoặc điều hoà gene liên quan phơi nhiễm môi trường là có liên quan đến một cách giải thích có thể về việc trải nghiệm xã hội được ghi dấu sinh học mà không bị cố định về di truyền, nhưng mối quan hệ đó vẫn chỉ mang tính tạm thời cho đến khi có thêm hỗ trợ độc lập.

  4. Confounding, tissue specificity, developmental timing, and weak causal identification in many human studies can, without premature certainty, be acknowledged without abandoning epigenetic regulation of childhood stress responses; stronger claims need support.

    Việc tính đến nhiễu, tính đặc hiệu mô, thời điểm phát triển và nhận diện nhân quả yếu trong nhiều nghiên cứu ở người khiến các khẳng định về điều hoà biểu sinh của đáp ứng stress thời thơ ấu cần được giới hạn, nhưng không làm chúng vô hiệu; những kết luận mạnh hơn vẫn cần thêm bằng chứng.

  5. Within proper scope, considering plasticity and later social environments that caution against deterministic interpretations of epigenetic findings alongside changes in DNA methylation, chromatin, or gene regulation associated with environmental exposure prevents a one-sided account.

    Xem xét tính dẻo và môi trường xã hội về sau đòi hỏi thận trọng trước diễn giải định mệnh luận về phát hiện biểu sinh bên cạnh thay đổi DNA methylation, chromatin hoặc điều hoà gene liên quan phơi nhiễm môi trường giúp tránh một cách giải thích phiến diện; cả hai yếu tố nên được giữ trong phạm vi phù hợp thay vì để một phía chi phối.

  6. Were confounding, tissue specificity, developmental timing, and weak causal identification in many human studies absent, a possible account of how social experience becomes biologically embedded without being genetically fixed might seem more secure in that scenario; confidence stays provisional.

    Nếu giả định nhiễu, tính đặc hiệu mô, thời điểm phát triển và nhận diện nhân quả yếu trong nhiều nghiên cứu ở người không còn, một cách giải thích có thể về việc trải nghiệm xã hội được ghi dấu sinh học mà không bị cố định về di truyền có thể có vẻ chắc chắn hơn; phản thực đó hữu ích cho phân tích nhưng không chứng minh kết luận.

  7. Should longitudinal cohorts, molecular assays, animal models, and repeated measures of adversity contradict changes in DNA methylation, chromatin, or gene regulation associated with environmental exposure, revising the explanation is, given present findings, preferable.

    Nếu cohort dọc, thử nghiệm phân tử, mô hình động vật và đo lặp lại nghịch cảnh mâu thuẫn với thay đổi DNA methylation, chromatin hoặc điều hoà gene liên quan phơi nhiễm môi trường, cách giải thích nền tảng nên được sửa lại theo bằng chứng hiện có thay vì được bảo vệ bằng lập luận tu từ.

  8. Before treating epigenetic regulation of childhood stress responses as more secure, the analysis needs to confront plasticity and later social environments that caution against deterministic interpretations of epigenetic findings; without such scrutiny, the conclusion remains weaker than it appears.

    Trước khi tăng mức độ tin cậy vào kết luận về điều hoà biểu sinh của đáp ứng stress thời thơ ấu, phân tích cần kiểm tra nó trước tính dẻo và môi trường xã hội về sau đòi hỏi thận trọng trước diễn giải định mệnh luận về phát hiện biểu sinh; nếu chưa làm được điều đó, sự tự tin nên được giới hạn.

  9. Evidence from longitudinal cohorts, molecular assays, animal models, and repeated measures of adversity should, at this level, be able to undermine changes in DNA methylation, chromatin, or gene regulation associated with environmental exposure.

    Việc dùng cohort dọc, thử nghiệm phân tử, mô hình động vật và đo lặp lại nghịch cảnh để kiểm tra thay đổi DNA methylation, chromatin hoặc điều hoà gene liên quan phơi nhiễm môi trường phải cho phép xuất hiện bằng chứng trái chiều; nếu không, thiên lệch xác nhận trở thành một khả năng đáng kể.

  10. Analysis improves when changes in DNA methylation, chromatin, or gene regulation associated with environmental exposure and plasticity and later social environments that caution against deterministic interpretations of epigenetic findings are considered together given present findings.

    Xem xét thay đổi DNA methylation, chromatin hoặc điều hoà gene liên quan phơi nhiễm môi trường cùng với tính dẻo và môi trường xã hội về sau đòi hỏi thận trọng trước diễn giải định mệnh luận về phát hiện biểu sinh giúp làm rõ vai trò khác nhau của chúng và tạo ra một cách diễn giải phân biệt hơn theo bằng chứng hiện có.

  11. Because confounding, tissue specificity, developmental timing, and weak causal identification in many human studies may vary, claims about epigenetic regulation of childhood stress responses need explicit boundaries at this level.

    Vì nhiễu, tính đặc hiệu mô, thời điểm phát triển và nhận diện nhân quả yếu trong nhiều nghiên cứu ở người có thể thay đổi theo bối cảnh, các khẳng định về điều hoà biểu sinh của đáp ứng stress thời thơ ấu cần nêu rõ ranh giới áp dụng thay vì được khái quát quá mức.

  12. Recognising a possible account of how social experience becomes biologically embedded without being genetically fixed with due caution need not erase plasticity and later social environments that caution against deterministic interpretations of epigenetic findings from the final judgement.

    Một kết luận cân bằng có thể ghi nhận một cách giải thích có thể về việc trải nghiệm xã hội được ghi dấu sinh học mà không bị cố định về di truyền đồng thời vẫn giữ tính dẻo và môi trường xã hội về sau đòi hỏi thận trọng trước diễn giải định mệnh luận về phát hiện biểu sinh như một ràng buộc thực sự, tránh tạo cảm giác chắc chắn quá mức.